Home Blog Page 2

Lời Phật Dạy Về Cái Chết – 3 Quan Niệm Cốt Lõi

0

CHẾT LÀ ĐỊNH LUẬT CHUNG CHO TẤT CẢ THẾ GIAN.

Lâu nay, chúng ta nghe nói nhiều về vấn đề sự sống, đề tài nói chuyện hôm nay là “Niệm Về Cái Chết”.

Thường người ta hay sợ chết, không dám nghĩ hay nói đến cái chết, cho dù gần chết cũng vậy, khi cái chết đến thì hoảng hốt. Còn chúng ta là người học đạo, phải luôn nghĩ về cái chết để khi đến giây phút đó không lấy làm lạ. Bởi vì ai cũng phải chết, có sanh thì có tử là lẽ thường nhiên, không ai tránh khỏi được.

Hòa Thượng Ân sư có bài pháp “Con Tàu Kỳ Lạ”, nói về chiếc xe lửa đặc biệt có nhiều toa mà không người lái. Toa trên tàu có nhiều hạng: từ hạng nhất, hạng nhì….cho đến các hạng thấp xấu. Mỗi hành khách có hành lý riêng, cùng đi chung một con tàu. Trên tàu có vô số người lính, áp tải hành khách lên các toa khác nhau. Tàu tự động chạy từ thành phố ra biển. Vì con tàu chạy đường dài, nên có người mệt thì ngủ vùi, có người lo ăn uống hay vui chơi suốt đêm, có người khi say sưa thì cãi nhau rồi đánh nhau……. Bao nhiêu cảnh chen lấn, giành giựt, ồn ào đều xảy ra trên tàu, nhưng con tàu vẫn cứ tiến ra biển. Tàu chạy qua nhiều phong cảnh, cảnh vật bên ngoài thay đổi liên tục. Cảnh đẹp thì thích ý, có người muốn tàu chạy chậm để ngắm xem cho kỹ. Còn cảnh không thích ý, thì muốn tàu chạy nhanh. Nhưng con tàu vẫn chạy đều đều không theo ý ai hết. Hành khách trên tàu bị các cảnh vật trước mắt và những lo nghĩ, quên mất điểm đến cuối cùng của tàu là gì?

Những hành khách đi trên tàu không phải ai cũng đến được bến đổ. Có những trường hợp gặp nhiều chuyện buồn bả, bất như ý, phiền muộn, đau khổ…., nhiều hành khách đã nhảy ra cửa tàu tìm cái chết trước khi tàu đến bến. Hoặc có những sự tranh giành, cãi nhau về chỗ ngồi, về tiện nghi, họ quăng ném nhau ra khỏi toa tàu…, tất cả tạo nên những sự náo động nguy hiểm, bất an cho hành khách và con tàu.

Tuy vậy trong số những hành khách trên tàu, có vài người biết rõ số phận của mình là tàu sẽ đi thẳng xuống biển, nên âm thầm lặng lẽ ngồi tìm những miếng cao su vụn, kết lại thành những chiếc phao để dành sẵn. Khi họ làm công việc này, lại bị những người xung quanh nhìn bằng con mắt khinh khi, chê cười cho là những người khùng điên, làm việc không đáng. Mặc ai nói cười gì thì nói, họ vẫn tiếp tục làm việc của mình.

Thế rồi, con tàu cũng đến bến đổ cuối cùng, trước mắt là biển cả bao la, con tàu vẫn tiến tới. Những hành khách trên tàu bây giờ mới hoảng hốt, lo sợ la lối yêu cầu con tàu ngừng lại. Nhưng con tàu không ngừng. Tại sao? Vì đây là con tàu không người lái. Và cuối cùng tàu đâm xuống biển. Tất cả hành khách theo con tàu đều chìm xuống biển, riêng chỉ có những người bị gọi là điên khùng lại có phao, họ ôm phao bình tỉnh bơi vào bờ.

Hợp pháp câu chuyện: Những người lính áp tải trên tàu là nghiệp lực, đưa đẩy dẫn con người đi vào chiếc tàu. Còn các toa tàu hạng nhất, nhì, tốt, xấu……, tùy theo nghiệp báo tốt, xấu của mỗi người mà ngồi vào toa của mình. Như hiện tại, người tạo nghiệp tốt thì sanh ra trong hoàn cảnh tốt, còn nghiệp xấu thì sanh vào hoàn cảnh xấu. Phong cảnh, cảnh vật bên ngoài là năm trần. Các trần cảnh bên ngoài luôn thu hút lôi kéo con người khiến quên mất, không nhớ được điểm cuối cùng kia. Còn những hiện tượng tâm lý vui buồn, thương ghét bên trong là tam độc, bát phong luôn thường thổi đến.

Sự vận chuyển liên tục của con tàu là thời gian. Thời gian cứ trôi đều, và điểm khởi đầu cùng điểm cuối của con tàu là con đường sanh và tử.

Bắt đầu đi là sanh ra, chạy tới chỗ cuối là tử, ai sanh ra rồi cũng đến điểm cuối cùng là cái chết, đó là điều chắc chắn không tránh khỏi. Nhưng vì vô minh nên ta say đắm những dục trần trước mắt, tạo nghiệp chịu khổ, không nhớ được điểm cuối là cái chết.

Người tỉnh giác biết phải lo tu tập đạo nghiệp, kết những cái phao, dù khi ngồi kết bị chê cười là ngu, là điên, nhưng vì đã có hướng đi, thấy được cái gì phải tới trước mắt, nên ai nói gì thì nói, họ cứ làm công việc của mình. Đó là cái khéo của người biết tu, nhẫn chịu sự nhạo báng chê cười của mọi người, chỉ lo kết phao chuẩn bị cho điểm đến cuối cùng của đời mình.

Có người lý luận tu cũng chết, không tu cũng chết, vậy tu làm chi? Do đó họ mặc tình hưởng thụ. Quả thật, trong thế gian này, từ vua chúa giàu sang đến kẻ cùng cực nghèo hèn, cuối cùng rồi ai cũng chết, đó là chuyện thường tình. Nhưng trong cái chết của mỗi người lại có điểm khác nhau.

Người không biết tu, chết trong mê lầm tối tăm, hoảng sợ đau khổ, chới với không có điểm tựa. Còn người biết tu khi chết được bình tỉnh, an ổn vào bờ, vì đã lo chuẩn bị phao sẵn từ trước. Điểm khác nhau là như thế! Người biết rõ lẽ vô thường, khi cái chết đến không bị bở ngỡ.

Trong kinh Pháp Cú kể câu chuyện: Có bốn vị Phạm Chí tu đắc được ngũ thông, nên biết trước là bảy ngày nữa mình sẽ chết. Họ nghĩ đã có ngũ thông vì sao lại đành chịu chết? Nên cùng nhau bàn tìm lối thoát. Vị thứ nhất nói: “Tôi dùng thần thông lặn xuống lưng chừng biển sâu, trên thì không nổi lên, ở dưới không chạm đáy, quỷ vô thường không biết rõ chỗ nào để đến bắt”. Vị thứ hai nói: “Tôi dùng thần thông vạch núi Tu-di vào trong giữa núi rồi khép lại. Quỷ vô thường có đến cũng không thể bắt được”. Vị thứ ba nói: “Còn tôi dùng thần thông biến mất, ẩn trong hư không, đâu có thể tìm ra được”. Vị thứ tư nói: “Tôi vào giữa chợ đông người lộn xộn, khi quỷ tới không biết ai, gặp người nào bắt người đó”. Bốn người đều làm theo như vậy. Nhưng đúng vào thời gian đó các vị đều chết hết. Người ở biển thì nổi lên; người trên hư không thì rớt xuống; người trong núi thì trồi ra, và người trốn trong đám đông thì nằm chết giữa chợ.

Đức Phật nghe được chuyện liền nói bài kệ:

Dù trốn giữa hư không,
Hay biển khơi, núi rộng,
Không một nơi nào cả,
Tránh khỏi được tử vong.

Vậy, chúng ta sợ chết có khỏi không? Sợ cũng không khỏi vậy sợ làm gì? Quan trọng là không mê lầm, sáng suốt biết rõ từng sự việc là tốt rồi.

Vua Trần Thái Tông (Việt Nam) là một ông vua thiền sư ngộ đạo, có sức sống thật sự. Tuy làm vua, sống cuộc đời cao sang vương giả mà lúc nào Ngài cũng lo kết phao. Nên trong bài “Nói rộng về sắc thân” nhà vua cảnh tỉnh cho nhau: “Chẳng luận giàu nghèo đồng vào cõi chết, hoặc để trong nhà thì vòi đục tửa sinh, hoặc ném ra đường thì quạ ăn chó xé. Người đời bịt mũi đi qua, con hiếu thì lấy mền quấn giấu; nhặt thu hài cốt, chôn cất thịt xương, quan quách phó cho đóm lửa ma trơi nơi hoang dã, mả mồ giao cho muôn dặm núi sông. Khi xưa tóc đen má ửng, ngày nay xương trắng tro đen.”. Khi chết rồi con cháu thương thì lấy mền quấn, bỏ vô hòm mà chôn. Đem quan quách phó mặc cho đóm lửa ma trơi nơi đồng hoang, đâu có ai ở đó mà giữ. Mồ mả giao cho muôn dặm núi sông ngoài hoang dã, mục đích cuối cùng cuộc đời, là hiện tượng như vậy.

Đó là điều chúng ta phải luôn quán niệm kỹ về cái chết, để không bị mê lầm và cũng là chuẩn bị cho tự thân của mỗi người, biết trước lẽ thật chắc chắn là như vậy, khi việc đến sẽ không bị bở ngỡ. Người Tây Tạng có câu: “Ngày mai hay đời sau điều gì tới trước, ta không thể biết được!”. Tức là hôm nay sống, nhưng ngày mai chưa biết còn sống hay không, ngừng thở là chết qua đời sau rồi. Lẽ thật của sự vô thường là như vậy, phải quán kỹ để chuẩn bị cho chính mình.

CÁI CHẾT CÓ TRONG CÁI SỐNG.

Thấy rõ cái chết trong cái sống, nên chúng ta cần phải quán kỹ cái chết ngay trong cái sống, chớ không phải ở nơi nào xa xôi. Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật hỏi vua Ba Tư Nặc: “Đại vương! Ngay nơi thân đang tồn tại của Đại vương, nay Như Lai muốn hỏi: Thân thịt này của Đại vương là thân kim cương bất hoại hay sẽ biến hoại?”. Đáp: “Bạch Thế Tôn! Thân con hiện nay rốt cuộc rồi sẽ bị biến hoại”. Đức Phật bảo: “Đại vương! Ông chưa từng diệt, làm sao biết mình sẽ biến diệt?”. Đáp: “Bạch Thế Tôn! Cái thân biến hoại vô thường của con hiện nay tuy chưa từng diệt, nhưng con thấy trước mắt, từng niệm dời đổi mãi không dừng, như lửa tàn thành tro, dần dần tiêu tan. Vì tàn hoại không dừng, nên con biết chắc thân này sẽ diệt mất”. Vua Ba Tư Nặc quán thấy từng niệm thay đổi không dừng, biết rõ thân là vô thường, thay đổi sẽ bị hoại diệt.

Đoạn sau Phật hỏi kỹ hơn: “Đại vương! Thân thể của ông đâu phải già liền?”. Vua Ba Tư Nặc thưa: “Bạch Thế Tôn! Nó âm thầm dời đổi. Cái thân già nua này thay đổi trong vòng 10 năm. Nếu con suy nghĩ kỹ hơn, chẳng những nó thay đổi trong khoảng 10 năm, 20 năm mà thực thay đổi trong từng năm. Chẳng những thay đổi trong từng năm, mà thực thay đổi trong từng tháng. Chẳng những thay đổi trong từng tháng, mà thực nó thay đổi trong từng ngày. Chiêm nghiệm thật sâu, quán sát thật kỹ thấy nó thay đổi trong từng sát na, trong từng mỗi niệm không hề dừng nghỉ. Thế nên con biết thân này cuối cùng phải chịu sự biến đổi, và hoại diệt”.

Chúng ta muốn thấy sự thay đổi của thân này cũng phải trải qua thời gian 10 năm. Mười năm nhìn lại mới thấy già, chớ còn một hai năm thì chưa thấy đổi thay. Có người nói còn trẻ đi tu uổng! Đó là thấy theo kiểu mê muội. Sự thật cái thân chúng ta nó chết từ từ, nó luôn luôn thay đổi. Như từ đây đi Đà Lạt phải qua đoạn đường dài 7 cây số, nhưng muốn qua 7 cây số thì phải đi qua từng bước, từng đoạn rồi từng cây số mới hết 7 cây số đến nơi. Thân này cũng vậy, nó thay đổi trên từng niệm sanh rồi diệt, mới qua 20, 30, 60, 70 năm. Như vậy, nhà vua đã quán kỹ thấy rõ sanh diệt trong từng niệm, nên biết chắc thân này rồi sẽ hoại diệt. Tức là thân này luôn chết trong từng sát na, không phải đợi đến 70 tuổi mới chết. Ngay khi sống đã có chết rồi. Vậy chúng ta đang ngồi đây là đang ngồi trong cái chết, chết trong từng sát na. Xét cho cùng về bản chất của thân là như thế. Luôn luôn nhớ như vậy chúng ta sẽ cởi mở được rất nhiều điều, mỗi khi lỡ có buồn giận ai mà nhớ nó đang ngồi trong cái chết, thì còn có ai buồn ai giận, đó là lẽ thật.

Trong kinh A Hàm có kể: Khi tuổi đức Phật đã lớn, một hôm Ngài đi khất thực trong thành Xá Vệ trở về thọ trai xong, sau đó cảm thấy trong người hơi lạnh, nên ra ngoài hương thất ngồi phơi nắng. Ngài vén y để lộ làn da lưng nhăn nheo ra nắng. Tôn giả A Nan từ xa thấy vậy, mới đến xoa lưng cho đức Phật, than: “Ôi! Da dẻ của Thế Tôn không còn láng mịn như thuở xưa nữa, lưng đã hơi khòm tới trước rồi. Ôi! Còn đâu những gì của thời trai tráng”. Phật bảo: “Đúng vậy A Nan! Cái già có sẵn trong cái trẻ, cái chết nằm trong cái sống, thân của Ta rồi đây sẽ hoại diệt, một lúc nào đó không tránh khỏi”. Nhân đó, đức Phật cũng nhắc nhở cảnh tỉnh chúng ta, Ngài bảo cái già nằm sẵn trong cái trẻ, cái chết nằm sẵn trong cái sống, đừng nghĩ là 70 tuổi mới già. Phải thường quán kỹ như vậy, để thấy lẽ thật của thân này, chuẩn bị cho giờ phút cuối của mình, để đến lúc đó không chới với hoảng hốt, không bất ngờ mà lại rất bình tỉnh, vì đã có kết phao rồi.

Sau khi đức Phật Niết Bàn, chư vị Tỳ kheo dùng kệ tán:

Thân này như bèo bọt
Mỏng manh có gì vui
Phật được thân kim cang
Còn bị vô thường phá
Thân kim cang chư Phật
Đều về với vô thường
Tan mau như tuyết non
Huống những chúng sanh khác.

Phật được thân kim cang, 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp rồi cũng bị vô thường đến tám mươi tuổi nhập Niết Bàn, huống là thân chúng ta. Quán kỹ thân Phật, rồi quán lại thân chúng ta có được bao nhiêu tướng tốt, đâu có gì là quý. Quán như vậy khi cái chết đến chúng ta không luyến tiếc, dính mắc vào thân này, lúc ra đi sẽ nhẹ nhàng an lạc. Còn dính mắc đi không nỡ, ở không được thì khó chết, vì bị giằn co vậy. Cho nên học hiểu, quán kỹ để sống đúng lẽ thật, đó là tạo những chiếc phao cho mình trước khi vô thường đến là đã biết tu rồi.

THẤY NGƯỜI KHÁC CHẾT NHỚ ĐẾN MÌNH.

Chúng ta cần luôn quán chiếu mọi sự việc, khi thấy người khác chết, phải nhớ tới mình cũng sẽ chết. Đừng nên nghĩ việc đó là của người ta, không dính tới mình, người ta chết chớ mình không có chết, đó là một sai lầm lớn. Trong kinh A Hàm ghi khi Phật ở tại tinh xá Kỳ Hoàn dạy các vị Tỳ kheo quán về cái chết như sau:

Ở thế gian có 4 hạng ngựa:

1- Loại ngựa vừa thấy bóng roi của chủ liền sợ, đi theo ý chủ.
2- Hạng ngựa này phải đợi cây roi chạm vào lông mới sợ.
3- Hạng ngựa thứ ba, đợi roi đánh đụng da bị đau mới chạy.
4- Hạng thứ tư, đợi roi đánh mạnh đau thấu xương mới chạy.

Và Phật hợp pháp, để độ bậc trượng phu qua bờ giải thoát, cũng có 4 pháp:

1- Có những người chỉ nghe ở trong thôn xóm, có kẻ nam người nữ bị bệnh, khổ đau bức ngặt sắp chết. Nghĩ mình rồi cũng vậy, nên liền sanh nhàm chán đối với pháp thế tục, để hết lòng tu thiện. Đó là bậc trượng phu điều thuận, như ngựa thấy bóng roi liền chạy.

2- Có người nghe chưa đủ, phải chính mắt mình thấy kẻ nam người nữ trong xóm bệnh, bị khổ ngặt nghèo sắp chết. Cảnh này khổ quá, rồi mình cũng sẽ đi tới chỗ đó, nên thức tỉnh lo tu. Đó giống như loại ngựa thứ hai.

3- Chỉ cho người chính mắt thấy cảnh khổ của người cũng chưa chịu tỉnh. Phải chính mắt mình thấy, bà con thân quyến của mình bị bệnh, khổ ngặt nghèo mới chịu tỉnh, còn người kia là người dưng không dính dáng đến mình. Đó là giống hạng ngựa thứ ba ở đây.

4- Hạng người này phải đợi chính thân mình bệnh khổ mới tỉnh.

Phật dạy 4 hạng người giống như 4 loại ngựa của bậc hiền nhân cỡi. Hạng người thứ tư còn dở nhưng cũng có tỉnh, chớ còn nhiều người không chịu tỉnh, thấy người ta chết là chuyện người ta. Tới khi chính mình khổ cũng chưa tỉnh, còn lo sự nghiệp trăm năm, lo xây mồ mả kiên cố nguy nga, mua cái hòm chắc đến trăm năm mới mục, vẫn không chịu tỉnh. Cổ đức có bài kệ nhắc nhở mọi người thức tỉnh tu hành:

Ngã kiến tha nhân tử
Ngã tâm nhiệt như hỏa
Bất thị nhiệt tha nhân
Khán khán lâm đáo ngã.
***
Ta thấy người khác chết
Lòng ta nóng như lửa
Không phải nóng đốt người
Thấy sẽ đến phiên ta.

Thấy người khác chết lòng mình như lửa đốt. Cái nóng đây là thấy người ta chết, biết mình cũng sẽ đến cái chết. Người lanh lợi nhạy bén là như vậy, thức tỉnh nhanh chớ không phải nghĩ đó là việc riêng của người khác. Đây là pháp cảnh tỉnh chúng ta sống bớt buông lung, và có liên hệ tốt với nhau. Như vậy, thấy rằng thân này không bền chắc, không nên quá mê đắm vào nó để bớt tạo nghiệp, đó là con đường tu. Nếu không hiểu được như vậy, mê đắm vào thân này chấp nó là mình, rồi theo đó tạo đủ muôn ngàn thứ nghiệp, Phật gọi đó là vô minh, là điên đảo. Từ “điên đảo” rất hay. Điên là điên khùng. Đảo là đảo ngược, lộn ngược. Cũng vậy, cái không phải mình mà nhận là mình, không phải thật nhận là thật, đúng là điên đảo. Nhờ Phật pháp chỉ dạy, chúng ta luôn luôn quán chiếu, mở sáng trí tuệ để thấy đúng lẽ thật, đó là chỗ Phật thương xót, đánh thức cho chúng ta tiến tu, chớ không phải cứ mê lầm lo tạo nghiệp.

Trong kinh Tọa Thiền Tam Muội có bài kệ:

Ngày nay làm việc này
Ngày mai làm việc kia
Tham đắm không thấy khổ
Bất giác giặc chết đến.

Ngày nay làm việc này, ngày mai làm việc khác, cứ lo tham đắm liên tục, bất chợt cái chết đến, không có phao, không có gì hết…….

Lăng xăng lo việc mình
Việc người cũng chẳng yên
Giặc đến không hẹn trước
Lúc đến không trốn thoát.

Việc mình lăng xăng, việc người cũng vậy, cái chết đến lúc nào không hay, không hẹn trước, không trốn thoát gì được.

Như con nai khát nước
Cắm đầu bên suối uống
Thợ săn chẳng thương xót
Chẳng để uống rồi giết.

Con nai khát nước đến bờ suối uống, thợ săn rình sẵn là giết ngay, không để cho nó uống nước xong mới giết. Cũng vậy khi cái chết đến, nó không nói đợi người đó làm xong việc đó rồi hãy chết, nó không hẹn và không chừa ai cả.

Người ngu cũng như vậy
Siêng năng lo sự nghiệp
Chết đến chẳng hẹn lúc
Ai sẽ bảo hộ ông?

Người mê cứ lo tạo nghiệp này, nghiệp nọ, không lo kết phao, khi chết đến lấy gì bảo hộ. Lúc đó thì đâu có hẹn lại được, là việc này tôi chưa làm xong hãy đợi cho tôi làm xong. Như ngoài đời có nhiều người nói bận nhiều việc, hoặc là còn lo cho mấy đứa cháu còn nhỏ, nên không có thời gian tu. Khi tuổi thọ hết, vô thường đến không hẹn đợi chờ ai cả, phải theo nó ra đi thôi.

Lòng người mong giàu sang
Hưởng ngũ dục chưa thỏa
Như các hàng vua chúa
Không ai mà khỏi chết.

Tham cầu giàu sang, sống một đời đầy đủ vật chất như vua chúa cũng phải chết.

Bậc tiên trì chú tiễn
Cũng không khỏi chết sống
Voi dữ vô thường đến
Trùng kiến cũng thành đất.

Những vị tiên trì chú trường thọ, hoặc uống thuốc trường sanh bất tử mong không chết, song cuối cùng rồi cũng chết, cho nên hiện tại chúng ta không gặp ông tiên nào hết. Cho đến những vị trời sống ở cõi trời Phạm Thiên, hoặc cõi trường thọ hưởng hết phước rồi cũng chết, không ai thoát khỏi; từ loài lớn đến loài nhỏ như trùng, kiến cũng thành đất. Phật dạy chúng ta quán kỹ, thấy rõ được lẽ thật cái chết đến là như vậy, để chuẩn bị tinh thần không nên nghĩ chúng ta còn sống lâu chưa đến nổi, không phải vậy. Phải lo chuẩn bị khi cái chết đến không chới với, hoảng sợ mà phải rõ sanh tử là lẽ thường nhiên, sợ cũng không khỏi được. Có chuẩn bị trước thì hay hơn, bình tỉnh ra đi an bình hơn.

Một bậc thầy Tây Tạng có dạy: “Một trong những lý do chính, khiến ta lấy làm khó khăn lo sợ khi đối mặt với cái chết, là vì ta tảng lờ sự thật về vô thường. Chúng ta cứ khăng khăng, muốn mọi sự đều tiếp tục như cũ, đến nổi ta tưởng rằng chúng vẫn như vậy, nhưng đó chỉ là ảo tưởng”.

Ngài dạy, do chúng ta tảng lờ, lờ qua cái chuyện vô thường, không dám nghĩ đến, khiến ta lấy làm khó khăn lo sợ khi đối mặt với cái chết. Thí dụ ở đời già sắp chết phải sắm cái hòm, không dám gọi là cái hòm mà gọi là cái thọ, rõ ràng như vậy. Tức là né tránh sự thật về vô thường, nên khi nó đến thì sợ hãi chới với. Vì thế, chúng ta phải luôn luôn quán chiếu, phải nhớ mỗi khi mình đang đi, đang bước là đang đi trong cái chết, khi cười cũng đang cười trong cái chết, luôn nhớ như thế thì lúc nào cũng tỉnh.

MỞ MẮT TUỆ THẤY ĐÚNG LẼ THẬT.

Chúng ta học đạo thấy rõ như vậy rồi, phải mở mắt trí tuệ thấy đúng lẽ thật, không đi theo những sự mê lầm nữa. Học Phật phải thực hành đúng theo Phật pháp, là trừ bỏ lo buồn khổ não, thân này là vô thường nhất định phải chết, phải thấy đúng vậy không bỏ lờ qua.

Không lầm chấp thân này là mình, mình không phải cái chết đó, bản chất thân này là hoại diệt, phải thấy đúng lẽ thật như vậy là mở mắt trí tuệ của chính mình nhìn thấy, chớ không phải để hiểu.

Học Phật là học lời dạy của Phật, như nói thân này là vô thường thì chúng ta cũng hiểu được, nhưng đó là của Phật chưa phải của chúng ta. Chúng ta phải luôn luôn quán chiếu chính mình, tự thấy như vậy mới chính là của mình, đó mới là quan trọng. Nhưng thường đa số người học Phật, chỉ học cái của Phật mà thôi. Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ nhất, có bài kệ nói về cái chết như sau:

Thân thể nằm dài trên giường lần cuối
Miệng thì thào những lời trăn trối
Tâm ngắm nhìn ký ức lần cuối diễn ra
Bi kịch ấy khi nào sẽ đến với ngươi ?

Cái thân khi nằm trên giường lần cuối, thì lúc đó miệng thì thào những lời trối trăn, dặn dò con cháu. Khi ấy, tâm ngắm nhìn ký ức lần cuối, diễn ra những cuộn phim của cả cuộc đời quay lại. Mỗi người hãy tự hỏi xem, cảnh ấy khi nào sẽ đến với mình đây? Phải thấy bằng chính con mắt trí tuệ của mình và tiến thêm một bước cảm nhận trong cái thân vô thường có cái không vô thường, trong cái sanh tử có cái vô sanh. Người mở được mắt tuệ rồi là tiến lên, chớ không chịu theo sự vô thường đó, mà phải vươn lên một cách tự tại bình thản, học Phật là phải như vậy. Nhưng đa số người thế gian đành chịu vậy, bởi vì nghĩ ông bà, tổ tiên, cha mẹ mình cũng chết, thì mình cũng chết, thôi đành chịu không làm gì khác được.

Do đó chúng ta phải noi theo sự tu hành của Phật, chính Phật là gương nhắc nhở cho chúng ta. Khi Phật dạo 4 cửa thành thấy cảnh người già, bệnh, chết thì Ngài liền tỉnh, hỏi Xa Nặc có ai khỏi chết không? Xa Nặc trả lời ai rồi cũng phải chết, Thái tử cũng chết luôn. Ngài băn khoăn hỏi ai sanh ra cũng chết, không cách nào vượt ra khỏi cái chết hay sao? Cho nên chính điều này thúc đẩy Ngài bỏ hoàng cung đi tìm giải thoát, quyết chí tìm cho ra cách giải quyết, tức là có sanh có tử phải có nguyên nhân của nó, chớ không phải ngẫu nhiên. Khi tìm ra nguyên nhân đó, chấm dứt được nguyên nhân đó, là giải quyết được vấn đề. Đức Phật làm được chuyện đó, tức là Ngài không chịu cúi đầu theo nó. Chúng ta học Phật cũng vậy, cũng không chịu như vậy, phải ở trong đó vươn lên, nhận rõ trong sanh tử có cái vô sanh, để sống trở về với cái vô sanh đó, vươn lên khỏi sanh tử, chớ không chịu cúi đầu theo sanh tử.

Trong quyển “Con người siêu việt” Ngài Milarepa có nói: “Vì sợ chết tôi đi vào trong núi, liên tục trầm tư về tính chất bất định của giờ chết. Bỗng bắt gặp thành trì bất tử vô tận của tâm bản nhiên. Bây giờ tất cả nỗi sợ hãi đều tan biến, và trong sanh tử mở cái thấy trí tuệ vô sanh”. Ngài sợ chết nên tìm cách giải quyết cái chết, bằng việcï đi vào núi tu hành, trầm tư liên tục về giờ chết bất định. Ngẫm xét về cái chết khi nó đến với bản thân. Cuối cùng, Ngài giác ngộ, bắt gặp thành trì bất tử vô tận là tâm bản nhiên, chân tâm sẵn có của chúng ta, nhận được cái tâm bản nhiên, cái này không chết, tất cả nỗi sợ chết đều tan biến.

Ngay trong sanh tử mở được trí tuệ vô sanh, thấy rõ mình không phải là cái chết này. Khi sống được với tâm bản nhiên rồi, cái chết đến thì chúng ta an ổn, vì đã có phao. Đó là kinh nghiệm. Ngài nhắc nhở chúng ta niệm về cái chết để vượt lên cái chết, mở sáng trí tuệ, không phải niệm về cái chết để mà chán đời.

Nhiều người ở thế gian, nghe học Phật nói gì cũng sanh tử vô thường, làm con người ta chán đời, không còn muốn làm gì cả. Cho nên, nhiều người phê bình đạo Phật là đạo bi quan, yếm thế, đó là chưa hiểu đúng về đạo Phật. Còn ở đây, đức Phật dạy rất rõ, Ngài chỉ cho chúng ta nhận định cái nào thật, cái nào giả để không lầm cái giả, trở về sống với cái thật. Niệm về cái chết, là để vượt lên cái chết, đó là con đường mỗi người con Phật phải đi. Muốn vậy, mỗi người phải có kinh nghiệm tu hành, nghĩa là phải quán chiếu trong từng tâm niệm của mình, giải quyết ngay trong từng tâm niệm để sáng tỏ được tâm bản nhiên. Nhận được tâm bản nhiên, là hết còn lo sợ chết, giúp tăng thêm kinh nghiệm hành thiền.

Đây là một trong những kinh nghiệm tinh yếu hành thiền của Phật giáo Tây Tạng.

Có bốn điểm chúng ta phải luôn quán chiếu, nhớ kỹ để rút thêm kinh nghiệm tu hành:

1- “Khi một niệm quá khứ đã chấm dứt, mà niệm vị lai chưa sanh, trong khoảng hở giữa hai niệm, có phải là có một ý thức về thực tại, mới mẻ nguyên sơ, không bị thay đổi bởi một mảy may khái niệm nào, thuần là một sự tỉnh giác nguyên vẹn hay không? Đấy! Tâm bản nhiên là thế đấy”. Nghĩa là khi niệm trước diệt, niệm sau chưa sanh, liền có khoảng hở. Bây giờ chúng ta phải khéo thấy, làm sao nhảy vào khoảng hở đó, là chúng ta làm chủ được niệm, thì tâm bản nhiên ngay chỗ đó, chơn tâm nằm ngay chỗ đó.

2- “Tuy nhiên, nó không ở mãi trong trạng thái như vậy, bởi vì một niệm khác lại khởi lên. Đấy chính là ánh sáng chiếu ra của tâm bản nhiên”. Chúng ta tu chưa được miên mật liên tục, nên một niệm khác khởi lên, phải khéo soi trở lại đừng theo nó.

3- “Nhưng nếu bạn không nhận ra niệm ấy, đúng như bản chất của nó ngay khi nó khởi, thì nó sẽ trở thành một ý tưởng khác như trước, đây gọi là “dây chuyền vọng tưởng” và là nguồn gốc của sanh tử”. Nghĩa là ngay niệm sau khởi lên, không nhận rõ đúng ngay bản chất của nó, thì thành ra ý tưởng khác. Có niệm tưởng mới xen vào là thành ý tưởng khác dẫn đi trong sanh diệt nên gọi là “dây chuyền vọng tưởng” là niệm này tiếp nối niệm kia. Niệm trước diệt niệm sau chưa sanh thì có khoảng hở, phải nhảy vào khoảng hở đó. Nếu nhảy chưa được, chưa kéo dài được thì niệm sau sẽ sanh khởi nữa. Khi niệm sau sanh khởi, nhận rõ bản chất của nó, nếu không nó thành ra ý tưởng mới và lại tiếp tục sanh khởi mãi. Như vậy là niệm niệm tiếp tục sanh diệt không gì khác, con đường đó gọi là nguồn gốc sanh tử.

4- “Nếu bạn có thể nhận chân được bản chất thật sự của ý tưởng (vọng tưởng), ngay khi nó khởi lên, thì cứ để yên đừng theo đuổi thêm. Bất cứ ý tưởng nào khởi lên, đều tự động tan vào khoảng bao la của tâm bản nhiên, và bạn được giải thoát”. Tức là ý tưởng khởi lên, chúng ta không theo nó thì nó sẽ tan, lỗi là tại chúng ta theo nó, nên bị nó dẫn. Do đó, chúng ta cần phải khéo tỉnh giác, thấy sâu vào lẽ thật ngay thân tâm của mình, đó là mở mắt trí tuệ, vượt lên sanh tử, chính ngay trong sanh tử là vô sanh. Vậy thân này chết nhưng ánh sáng đó không chết, tâm bản nhiên không chết, đó là con đường vượt qua sanh tử. Vì vậy, khi chúng ta niệm về cái chết là để vượt qua cái chết, cần phải nhớ như vậy.

TÓM KẾT.

Tóm lại, cái gì có sanh thì có tử, từ thân chúng ta cho đến cảnh vật bên ngoài, phải nhớ chắc chắn như sau:

1- Thân chúng ta có sanh thì có tử, tâm có sanh thì có diệt, còn tâm không sanh thì không diệt. Đó là hai lẽ thật rõ ràng, nhận rõ để không lầm, cần phải nhận ra cái tâm không sanh không diệt đó để vươn lên.

2- Có sanh thì có tử là lẽ thường nhiên, không ai tránh khỏi, không phải của riêng ai. Vậy thì cái chết đến với chúng ta cũng không lấy làm lạ, vì đây là cái chết của tất cả, đừng nhớ cái này là của riêng mình để bớt sợ.

3- Thân này có sanh thì có tử, tức là không phải là ta, không phải của ta. Nhớ như vậy khi mất nó thì kệ nó, không dính dáng gì tới cái bản lai diện mục của chính mình. Thiền sư Pháp Loa khi sắp tịch nói bài kệ:

Muôn duyên cắt đứt một thân nhàn,
Hơn bốn mươi năm giấc mộng tràng,
Nhắn bảo mọi người thôi chớ hỏi,
Bên kia trăng gió rộng thênh thang.

Tuy bỏ cái này nhưng bên kia trăng gió rộng thênh thang, có gì phải lo sợ! Vua Trần Thái Tông trong những ngày cuối cuộc đời, vua có bệnh quốc sư Đại Đăng vào thăm hỏi: “Bệ hạ bệnh chăng?”. Vua đáp: “Tứ đại là bệnh, cái này xưa nay sanh tử không can hệ, mà dính kẹt trong bệnh hoạn sao?”. Rồi mấy hôm sau, khi sắp mất, vua Thánh Tông muốn nhờ hai vị quốc sư Phù Vân và Đại Đăng đến nói pháp xuất thế cho Ngài nghe. Thái Tông gằn giọng bảo: “Đến trong đây bớt một mảy tơ dường trên thịt khoét thương tích, thêm một mảy tơ như trong mắt để bụi. Ba đời chư Phật bốn mắt nhìn nhau, sáu đời Tổ sư thoái thân có phần. Dù Phù Vân nói huyền, Đại Đăng thuyết diệu đều là lời thừa, có ích gì đối với cái này”. Nói xong Ngài lặng lẽ ra đi, thọ 60 tuổi.

Chúng ta thấy khi nhà vua bệnh được quốc sư Đại Đăng đến thăm bệnh, mà Ngài vẫn xác định “Tứ đại bệnh còn cái ấy đâu có bệnh, cái ấy đâu có dính dáng gì trong bệnh hoạn”. Để thấy là nhà vua hằng sống được trong đó, nên mới an nhiên trả lời như vậy. Rồi khi vua cha sắp mất, Thánh Tông nhờ hai vị quốc sư đến trợ niệm giúp vua cha, nhưng vua cha không cần vì Ngài đủ sức làm chủ lấy bản thân, nên nói: “Đến trong đây bớt một mảy tơ thì dường như trên thịt khoét thành thương tích, thêm một mảy tơ như trong mắt có bụi”. Nghĩa là trong đó không cần thêm bớt gì nữa, như vậy là như vậy, thêm hay bớt chỉ là tạo thêm thương tích mà thôi. “Ba đời chư Phật bốn mắt nhìn nhau, sáu đời Tổ sư thoái thân có phần”, tức là chỗ ba đời chư Phật nhìn nhau không có kẻ hở cho ông dòm vào, cũng là chỗ chư Tổ phải lùi lại, ông làm sao bám. Vì thế hai vị quốc sư có bàn huyền nói diệu gì, thì cũng không dính dáng, chỉ như lời nói bên ngoài, lời dư thừa thôi. Nói xong rồi thì vua lặng lẽ ra đi.

Đúng là làm chủ trong sanh tử. Làm vua bao nhiêu việc mà Ngài còn rảnh rang tu được, có sức tự chủ trong sanh tử, còn chúng ta thì sao? Việc chúng ta đâu có nhiều hơn ông vua! Chúng ta còn nhiều thời gian lắm, lại đổ thừa công việc bề bộn tu không được, vậy là sao?

Qua tấm gương của vua Trần Thái Tông, chúng ta phải hổ thẹn cho mình. Nhà vua có chỗ sống chân thật nên khi bỏ thân này không có lo sợ, còn chúng ta khi phải bỏ thân này thì sao? Đó là chỗ chúng ta phải luôn học, luôn nhớ để quán chiếu. Trong kinh Di Giáo, lời dạy sau cùng trước khi Phật nhập Niết Bàn là: “Đây là vật tội ác và đáng bỏ, giả gọi là thân, nó chìm đắm trong biển sanh già bệnh chết. Như thế có người trí nào trừ diệt được thân này, như giết bọn giặc cướp mà chẳng vui mừng”. Lời đức Phật dạy nhắc nhở chúng ta bỏ thân là trừ được giặc, là vui chớ không phải buồn. Đó là chỗ chúng ta học suốt đời đến khi nhắm mắt chưa chắc đã xong, nào phải chỉ học vài ba hôm rồi thôi. Phải luôn ghi nhớ để trừ tham luyến về tấm thân này, để ngày ra đi chúng ta được nhẹ nhàng tự tại.

Đây không phải là chuyện trên chữ nghĩa, mà là chỗ cần phải sống. Một bậc thầy của Tây Tạng đánh thức mọi người: “Bạn có bao giờ hiểu, thân chứng về sự vô thường hay chưa? Bạn đã thâm nhập nó trong từng ý tưởng, động tác, hơi thở, đến nổi cuộc đời bạn nhờ vậy đổi mới hay chưa?”. Nhắc mọi người chúng ta luôn luôn tự kiểm lại mình có thật sự hiểu, thân chứng về sự vô thường chưa? Phải thâm nhập trong từng ý tưởng, động tác, hơi thở, phải đi đứng, nằm ngồi, nói cười luôn nhớ về cái chết, thì cuộc đời chúng ta mới đổi mới được. Mỗi người phải tự hỏi mình hai câu sau:

1- Tôi có nhớ hay không rằng tôi cùng mọi người, mọi vật đang tiến dần đến cái chết, và vì thế phải đối xử với mọi chúng sanh bằng lòng bi mẫn?

2- Sự hiểu biết về chết và vô thường nơi tôi, có thực đã trở nên bén nhạy, cấp thiết đến độ tôi đang dành mọi giây phút còn lại của đời tôi để theo đuổi sự nghiệp giác ngộ hay không? Nếu bạn có thể trả lời: “có” ù cho cả hai câu hỏi ấy, thì bạn mới thật sự đã thâm nhập lý vô thường.

Qua hai câu hỏi này có nghĩa là chúng ta phải luôn luôn hỏi mình, có nhớ là chúng ta đang chết hay không? Mình và mọi người ai cũng đang chết, thông cảm cùng hoàn cảnh thì phải đối xử với nhau cho tốt đẹp. Và sự hiểu biết về chết và vô thường, có thật sự cấp thiết đến độ chúng ta dùng tất cả thời gian còn lại của đời mình, để dành cho sự nghiệp giác ngộ hay không? Nếu có thể trả lời: “có”ù cho cả hai câu hỏi, thì chúng ta mới thực thâm nhập lý vô thường, còn chưa là vẫn chưa thật hiểu vô thường.

Hiện nay, có người học Phật thường nói: “Tôi học “minh tâm kiến tánh”, còn nói “vô thường” là chuyện quá xưa, là chuyện của mấy người sơ cơ mới học”. Sự thật, ở đây người nào trả lời “có” trong hai câu hỏi này, mới thật sự hiểu lý vô thường. Chúng ta phải luôn nhớ như vậy, bài học này chúng ta phải học suốt đời, thì việc tu hành sẽ tăng tiến, mới đúng là thấy biết sáng suốt.

Đức Năng Thắng Số Là Gì – 3 Điều Nhất Định Phải Biết

0

Từ xa xưa có câu để lại là ” đức năng thắng số”, vậy đức năng ở đây được hiểu như thế nào? và cái gì tạo ra số và số được thể hiện ra sao?

Khái Niệm

Theo Nhân Quả

Cuộc sống là chuỗi quá trình nhân quả, ở trong quá trình đó, bất kể loài nào cũng không ra khỏi quy luật của nhân quả, quy luật của nghiệp. Nghiệp chính là những hành vi tạo tác thông qua hành vi thân hành động việc làm, khẩu nói năng giao tiếp, ý nghĩ suy vọng tưởng. Qua quá trình sống, từ các hành vi thân khẩu ý mà ta vô tình hay cố ý, biết hay không biết đã tạo nghiệp báo phải chịu kết quả không tốt hay tốt sẽ đến từ tương lai hay kiếp sau, có khi là ảnh hưởng con cháu mình. Đây là quả do nhân tạo tác mà thành. Và nghiệp tạo ra số phận hay định mệnh của một con người (biệt nghiệp), một tập thể người (cộng nghiệp), một cá thể, một loài hay chuỗi nhiều loài.

Nghiệp tạo ra vô số nhân duyên tốt đẹp hay xấu tác động đến người chịu nghiệp, và kết quả của nghiệp lại làm nhân cho nhân của nghiệp mới, và cứ thế tạo thành chuỗi TẠO TÁC – NGHIỆP – TẠO TÁC – NGHIỆP…hay NHÂN – QUẢ – NHÂN – QUẢ…và cái vòng luẩn quẩn trong cuộc sống ảo mộng cứ tiếp nối không ngừng. Có khi ta được gặp may mắn làm việc gì cũng thuận lợi là do duyên quả của nhân tạo tác thiện nghiệp trước đó ; có khi làm gì cũng không được may mắn, có lúc sinh ra trong hoàn cảnh không tốt…tất cả cũng do duyên quả của nhân tạo tác ác nghiệp lúc trước mà có…

Nhưng có người sắp nhận nghiệp dữ quả báo tới mà lúc phút cuối cùng lại thay đổi cục diện, chuyển biến tình hình từ xấu thành tốt là do đức năng của người đó, người đó trong lúc bình thường hay phút gần chuẩn bị nhận nghiệp báo chiêu cảm lúc trước lại có những hành động, hành vi, việc làm tốt nên nhờ đó đức độ hình thành và đức độ can thiệp vào kết quả nghiệp báo làm nghiệp báo giảm nhẹ hay hết nghiệp báo đó. Ngược lại cũng có người gặp may mắn tốt lành, giàu sang sung túc…nhưng qua những ngày tháng năm trong quá khứ tích lũy những hành vi tạo tác những nghiệp bất thiện nên đúng ra người đó đang hưởng quả báo tốt lành do phước đức trước nhưng ở đây đã có sự can thiệp của nghiệp báo không tốt vào nên người đó lại gặp không may mắn nữa, có khi trở thành tay trắng hay tù tội…

Vậy ai đang gặp những việc bất như ý là đang chịu nghiệp xấu thì hãy sống tốt, sống có đức độ để có thể thắng số phận do nghiệp tạo ra và ứng với câu “ĐỨC NĂNG THẮNG SỐ” là vậy. Còn những người đang gặp tốt lành thì cũng đừng vội mừng chủ quan, kiêu mạn tự đại mà tạo tác nghiệp thì nghiệp mới không tốt lại làm cho nghiệp tốt cũ giảm đi hay tổn mất do thiếu đức độ mà ra.

Hãy sống an vui trong chánh niệm hiện tiền, mặc thịnh suy của cuộc đời nghiệp số, sống đức độ hiền lành nhân hậu, lấy con tim đối đãi lẫn nhau thì sớm muộn gì nghiệp báo tốt đẹp cũng sẽ tới với mình.

Theo quan Điểm Tướng Số

Với quan điểm tướng số thì đức năng thắng số giải thích như sau:
Người xưa bảo: “Nhất ẩm, nhất trác, giai do tiền điện” (Ăn uống, cử động đều đã định trước), “Mưu sự tại nhơn, thành sự tại Thiên” (Mưu tính nơi người mà thành bại do Trời).

Người xưa lại bảo “Đức năng thắng số” (Phúc đức có thể thắng số mệnh) “Nhân lực thắng Thiên” (Khả năng con người có thể cải số Trời)…

Hai lập luận trên đây tương đối mâu thuẫn, mà từ lâu chúng ta còn phân vân, không rõ luận thuyết nào đúng hơn, vì mỗi luận thuyết đều có những sự tích chứng minh.

Như bảo số mệnh do Trời thì có những người số chết đói, chết đuối dù có né tránh, rốt cuộc vẫn chết đói, chết đuối.

Còn bảo Đức năng thắng số thì cũng có những trường hợp đáng lẽ phải chết đói, chết yểu, mà nhờ biết tu tỉnh, làm nhiều âm đức, được thoát chết, sống lâu, lại khá giả chẳng hạn.

Vậy luận thuyết nào đúng hơn? Chúng tôi xin có đôi lời góp ý cùng quý bạn.

Số mệnh con người, do đâu?

Con người được hình thành bởi hai phần chính: thể xác do cha mẹ sinh ra và linh hồn tiếp nhận nơi Tạo hóa, và linh hồn là Tiểu Linh-Quang trong khối Đại Linh Quang của Tạo hóa. Vậy con người là một Tiểu Thiên địa, hay một Tiểu Vũ trụ.

Nhưng phải chăng Tạo hóa bất công, khiến con người có kẻ giàu sang, sung sướng, người lại nghèo hèn, khốn khổ, dù cùng sinh ra trên một dãy đất, trong một gia đình, hoặc cùng một năm, tháng, ngày, giờ với nhau?

– Chắc hẳn không phải thế.

Các tôn giáo và hầu hết loài người đều tin rằng có Thượng Đế, Chúa tể Càn Khôn, cầm quyền thưởng phạt muôn loài.

Nhưng tôi trộm nghĩ, tuy Thượng Đế là đấng Chí tôn, quyền năng vô tận, nhưng cạnh Ngài còn có một cái “Luật” mà Lão Tử tạm dùng chữ “ĐẠO” để gọi, đó là luật Trời, hay Thiên lý, mà Thượng Đế tùng theo, để điều hành vũ trụ (cũng như một Quốc gia, tuy vị Nguyên thủ là trên cao nhưng vẫn phải tuân hành Hiến pháp).

Do đó, sở dĩ có kẻ sướng người khổ là do số mệnh an bài, nhưng số mệnh chẳng phải do “ông Trời” hay các vị Thánh Thần sắp đặt, cho người này giàu, bắt người kia nghèo mà là do “NGHIỆP” (Karma) của chính con người, tức luật Nhân quả.

Nghiệp và luật Nhân Quả

Không ai có thể biết được con người có từ bao giờ, trải qua bao nhiêu kiếp, nhưng theo thuyết luân hồi thì hẳn đã quá nhiều!

Mỗi kiếp, con người đã làm bao nhiêu điều lành lẫn điều dữ, phước có, tội có năm này tháng nọ chất chồng, có khi chưa chịu thưởng phạt đúng mức đã mãn số, lại luân hồi kiếp mới để “trả đũa” cũ và lại tạo thêm “Nhân” mới.

Bởi thế mà trong lá số Tử Vi của một người, có những sao tốt, sao xấu lẫn lộn, cung này cung nọ liên quan chằng chịt nhau, biểu hiện cái “Nghiệp” của người ấy, trông cây gì được quả nấy, như bóng với hình, mà trong đó Vận hạn là con đường bắt buộc cá nhân phải trải qua để trả Nghiệp cũ (thưởng lẫn phạt), đồng thời tạo Nghiệp mới.

Nghiệp có lành có dữ thì Vận số có tốt có xấu. Vận tốt thì được thụ hưởng giàu sang sung sướng, vận xấu thì chịu nghèo hèn, hoạn nạn nhưng cán cân nghiệp lành, nghiệp dữ không đều, thì vận số cũng không đều nhau, do đó Họa và Phúc lẫn lộn hoặc nhiều hoặc ít, chẳng hạn tuy giàu sang mà đau ốm, vợ chồng căn đắng, con cái hư hỏng, hay ngược lại tuy nghèo hèn mà ít nạn tai, vợ chồng hòa thuận, con cháu hiếu thảo….

Cải số mệnh được không?

Như đa trình bày ở trên, thì số mệnh đã an bài do nghiệp của nhiều tiền kiếp, hễ vay ắt phải trả, cho nên số mệnh con người như đã được lồng vào một cái khung và vận hạn ví như một con đường duy nhất, bắt buộc con người phải đi qua, một lộ trình vạch sẵn.

Bởi vậy trên nguyên tắc, số mệnh là số mệnh, khó mà cải đổi được cái căn bản, tức cái khung của số mệnh, hay là những “nghiệp lớn”.

Nghĩa là nghiệp cũ phải trả, dù thụ hưởng hay bị hình phạt. Do đó chúng ta thấy có những người hung ác mà vẫn giàu sang, phè phỡn, còn người hiền lương, tu niệm, làm phúc lại cứ gặp hoạn nạn, là vì nghiệp cũ chưa “thanh toán” xong, mà “Nhân” mới chưa kịp có “hiệu lực”.

Tuy nhiên, con người có thể cải được một phần số mệnh vận hạn của mình, nhưng rất ít, hơn nữa, chẳng phải ai cũng có khả năng hoán cải, dù có cải cũng chỉ cải được vận số nhỏ, tức các nghiệp nhỏ thôi. Cũng ví như “cái khung” vẫn y nguyên, mà “cái cảnh” có thể thêm hoặc bớt. Đó là tạo “nhân” (tốt xấu) mới để bù đắp “quả” (xấu tốt) cũ.

Tôi xin đơn cử vài ví dụ, nếu dễ cải được số thì thuở xưa Văn Vương đã chẳng bị giam cầm 7 năm nơi Dũ Lý, Khương Tử Nha chẳng đợi đến 70 tuổi mới đặng công hầu. Tôn Tẫn khỏi bị chặt chưn và bảo vệ nước Yên khỏi bị Tần thôn tính. Khổng Minh thống nhất được giang sơn thời Hớn mạt. Hạng Võ và Hàn Tín đều anh hùng. Hạn xấu đến, đều chết thảm; lại như Lương Võ Đế cất 72 ngôi chùa mong cải số, rốt cuộc vẫn chết đói ở Đái Thành.
Ngay thế kỷ hiện tại, những nhân vật muốn xoay thời tạo thế, đem tài trí đấu tranh, mà không thuận với cơ trời rồi ra vẫn thất bại.

Chính tôi, sau gần 20 năm xem tướng số đã được chứng kiến nhiều trường hợp, có những người, sau khi đoán là vận hạn xấu, tôi khuyên nên an phận, chớ mưu sự to, liều lĩnh mà thất bại hoặc gặp nạn. Mặc dù tin số mạng song họ tự tin, cố đem tài sức, mưu trí (xin lưu ý là tài sức chứ không phải Đức) chống lại số mệnh, mà càng hoạt động to lớn, càng sa lầy hơn.

Lại có những trường hợp, khách xem về các sự việc bình thường hằng ngày, để biết thành bại, đắc thất, sau khi gieo quẻ Dịch, quẻ ứng xấu, tôi bảo thẳng với khách là không hy vọng gì… khách buồn bã ra về, dùng mọi phương tiện, mưu mẹo, kể cả tiền bạc, cố xoay sở, nhưng rồi vẫn không kết quả, (vì hoàn cảnh không thuận lợi, được cái này hỏng cái kia, như định mệnh khiến xui như vậy) rốt lại số vẫn là số!

Cải số bằng cách nào?

Theo thiển ý riêng tôi thì có thể tạm chia thành 2 phương thức: “tiêu cực” và “tích cực”

– Về “tiêu cực” thì tương đối đơn giản hơn, có nghĩa ăn ở và hành động thuận theo số mệnh và Thiên Lý. Không gieo gió thì khỏi gặt bão. Khi gặp vận tốt thì nương đó tiến lên để thành đạt. Lúc gặp vận xấu thì chớ liều lĩnh, làm bạo, thấy hao tài thì chớ cho vay mượn, thấy đau ốm thì gìn giữ sức khỏe, thấy nạn tai thì tránh xe cộ, sông nước, thấy thị phi quan sự thì nên nhẫn nhịn, tránh phạm pháp…Tuy đến Năm, Tháng, Ngày, Giờ đó, vẫn bị hạn, song có thể nhẹ bớt ít nhiều.

Như có một tuổi Tân Mùi, thường nhờ tôi đoán số, đầu tháng 4 năm rồi, tôi có xem cho ông và đoán rằng khoảng giữa tháng ông có tai nạn nhẹ, độ hơn tuần lễ sau, ông đến nhà tôi với mấy vết băng ở mặt và tay chân. Hỏi ra mới biết ông vừa ngộ nạn vì xem Lam lật, bị xây xát cả người.

Ông nhờ tôi xem tiếp coi còn xui rủi nữa không? Tôi gieo quẻ Dịch, lần này quẻ ứng bổn mạng cũng xấu, e còn tai nạn nữa. Ông nhờ tôi đoán kỹ xem ứng vào ngày x tháng x…sau đó ít lâu ông lại đến, khen tôi đoán rất đúng và thuật rằng: “Chính cái ngày ấy, ông cố ở nhà suốt ngày, không ra khỏi cửa, 8 giờ tối ông giăng mùng đọc báo, kể như yên ổn. Nhưng đến 10 giờ đêm, trước khi ngủ, ông xuống nhà sau đi tiểu, bất ngờ trợt chân ngã té nằm sóng sượt bất tỉnh dưới đất, may người nhà hay kip đỡ lên xoa bóp, mấy phút sau mới tỉnh.

Ông kết luận “tưởng ở nhà yên thân, té ra cũng bị! Nhưng may là ở trong nhà chỉ bị xoàng, chứ nếu ngoài đường sá, chắc nặng hơn, chưa biết tới đâu”. Còn nhiều trường hợp tương tự, kể ra e chán ngấy.

– Về phương diện “tích cực” phức tạp hơn, nhưng tựu trung là cố gắng làm nhiều việc “Âm đức” để hóa giải các nghiệp nặng. Nhưng phải thật thành tâm, đầy thiện ý, hành động một cách tự nhiên theo lương tâm không tính không vụ lợi, không cầu danh, thì việc làm tuy nhỏ mà có khi Âm đức lại to.

Chớ không phải ỷ có nhiều tiền, vung tiền của phi nghĩa ra, gọi là bố thí, làm phước, để được khen ngợi, ca tụng, hoặc giả làm lấy có, lấy lệ, cúng chùa, lễ Phật, giải sao hạn…tuy là những việc làm có tánh cách từ thiện, cũng hay, cũng là những “Nhân” lành, song chưa thể gọi là “Âm đức” được. Vì Tạo hóa chí công vô tư, hẳn không vì nhiều tiền mà cho nhiều phúc, còn ít tiền lại cho ít phúc hay sao?

Tôi xin đơn cử vài việc làm có tánh cách Âm đức. Như thấy vợ chồng người ta xích mích, định lìa bỏ nhau, mình cố công khuyên bảo, trợ giúp cho họ hòa hiệp, sống chung lại; Thấy người chết đuối, mình chẳng ngại nguy hiểm, cứu vớt người ta sống lại; Thấy người nguy ngặt, động lòng trắc ẩn, mình tận tâm giúp đỡ, có bao nhiêu giúp bấy nhiêu, mà không nghĩ đến sự đền bồi, hay được người ca tụng…như thế mới gọi là “Âm đức”, có tác động mạnh đến “Nghiệp”, cảm động lòng trời, mới có ảnh hưởng ngay vào số mệnh và vận hạn (Như tích ông Lê Bùi Độ đời Đường trả đai ngọc cho người, chuộc mạng cha, chẳng hạn).

Một vài phương thức khác

– Nhờ Đức tin và lòng thành, tức những người tiền căn, hiện kiếp có sự liên quan, giao cảm với cõi Trung giới hay cõi Âm, nay vận hạn tuy xấu, gặp hoạn nạn, nhưng ăn ở hiền lương, ngay thật, lại có đức tín và lòng thành khắc được Thánh Thần và các vong linh quá vãng phù trợ, thấy dữ hóa lành.

– Mồ mả tổ tiên, phúc đức hay tội lỗi của ông bà cha mẹ cũng ảnh hưởng rất nhiều đến vận số con người. Ví dụ: vận hạn đang xấu, có ông cha quá vãng mà an táng nơi đất kết phát thì có ảnh hưởng tốt. Hoặc biết con cái số phải long đong mà cha mẹ biết làm phúc chứa đức thì con cái được nhờ, sớm thì hiện tại, chậm thì tương lai.

– Ngoài ra, vấn đề chỗ ở, nhà cửa, bếp núc cũng có ảnh hưởng một phần vào vận số con người. Chẳng hạn như số mệnh đã tốt mà chỗ ở được vùng đất tốt, nhà cửa bếp núc day đúng phương hướng với mạng, thì sự tốt tăng thêm. Nếu vận hạn xấu mà dời chỗ ở cho hạp phong thổ, nhà, bếp day hướng tốt hạp với cung Mạng của mình thì cũng đỡ được khá nhiều.

Để tạm kết luận bài này, tôi xin thưa cùng quý bạn rằng: Chúng ta nằm trong “quỹ đạo” của Nghiệp, chi phối bởi số mệnh, cho nên số – mệnh vẫn là số mệnh. Chúng ta tìm hiểu số mệnh để ăn ở, hành động hợp với số mệnh hay Thiên lý, để lánh dữ tìm lành.

Chúng ta đừng tự phụ bảo rằng cải được số mệnh bằng tài sắc và mưu trí, đã vô ích mà còn nặng nghiệp hơn đấy!

Nếu chúng ta có một định số kém sáng sủa, chúng ta cũng chớ quá bi quan, phó mặc Hóa công, tới đau hay đó, rồi cái gì cũng Số, cái gì cũng Mệnh! Không làm gì cả, cũng vô ích. Mà chúng ta phải cố công bồi tu Âm đức để hóa giải Nghiệp cũ (tùy theo cán cân Đức và Số).

Ví dụ phúc đức tạo ra chưa đủ đền bù Nghiệp cũ quá nặng, chúng ta có thể hãnh diện rằng đã giep được “Nhân” lành, mà khi Nghiệp cũ trả xong chắc chăn “Quả” lành sẽ đến.

Cũng xin lưu ý quý bạn là chính ta mới có thể tự cải số chung ta mà thôi. Ngoài ta ra không ai cải số giùm ta được, kể cả các đấng vô hình.

Vậy quý bạn hãy suy ngẫm kỹ về cúng kiến, lễ bái, cầu đồng cốt hay dùng bùa phép. Có dịp, tôi xin trở lại với những đề tài mới

Ý Nghĩa Sắc Tức Thị Không Không Tức Thị Sắc – 2 Bản Ngã 1 Trắng 1 Đen

0

Sắc Tức Thị Không – Không Tức Thị Sắc là câu nói kinh điển trong Bát Nhã Tâm Kinh, một học thuyết do Bồ tát Long Thọ (nagarjuna) đưa ra mà cho đến nay, chưa ai có thể tìm ra bằng chứng để phản biện lại học thuyết này. Người xưa không hiểu Phật nói rằng, đạo Phật nói gì mà không không có có, ba hồi nói có, ba hồi nói không, thật là ba phải. Họ không hiểu được ý nghĩa nội hàm vô cùng sâu sắc trong câu nói tuy có vẻ đơn giản này.

Khái Niệm

Người ta thường nói rằng, Sắc Tức Thị Không – Không Tức Thị Sắc hay Sắc Bất Dị Không – Không Bất Dị Sắc có nghĩa là Sắc cũng như Không và Không cũng như Sắc. Đúng là tào lao, tôi đang nhìn vào chiếc điện thoại để đọc bài viết này, chiếc điện thoại có thật và nó là “Sắc”, tại sao đạo Phật lại nói “chiếc điện thoại” tôi đang nhìn không tồn tại!

Giảng Nghĩa

Từ “Sắc” trong đạo Phật dùng để chỉ vật chất, có hình tướng, những gì mà chúng ta có thể cảm nhận được.

Từ “Không” trong đạo Phật không phải là môi trường chân không (không gian trống rỗng không chứa vật chất), mà chữ Không ở đây là Tánh không, sự trống rỗng của vạn vật, không gì có tự tánh chân thật, không gì có bản chất cố định vĩnh viễn. Tất cả sự vật, hiện tượng đều do nhân duyên mà hợp thành.

Như vậy, Sắc Tức Thị Không – Không Tức Thị Sắc là nói đến bản chất thật của vạn pháp là Vô tướng, Tánh không của vạn pháp.

Tôi vẫn chưa hiểu, Vô tướng là gì? Đôi giày tôi đang mang Size 42, có chiều dài 27cm, chiếc xe của tôi màu đen, và vợ của tôi rất là đẹp! Nếu không có “Tướng” thì làm sao tôi có thể phân biệt giữa vật này với vật khác, giữa người này với người khác?

Nếu chúng ta truy nguyên nguồn gốc của mọi vật, chúng ta nhận ra rằng, chẳng có cái gì được gọi là đôi giày, nhà cửa hay xe cộ cả. Lý do? Vì những thứ đó đều không có bản chất cố định để nhận diện. Tất cả là do nhân duyên tạm bợ nương gá nhau mà thành. Hết duyên thì tan rã rồi trở về với cát bụi hư vô. Không có gì là tự thân riêng biệt của chính nó cả.

Ví dụ, chúng ta thường nói về chiếc xe như là một thứ gì đó hiện hữu, riêng biệt. Chiếc xe hơi khác chiếc xe đạp, vậy thì phải có cái gì đó để chúng ta phân biệt nó đúng không?

Tuy nhiên, nếu chúng ta phân tích chiếc xe thì chúng ta nhận ra rằng, chiếc xe không tồn tại, nó không có bản chất cố định để nhận diện. Chiếc xe không có tự tánh chân thật chính nó, chiếc xe hoàn toàn trống rỗng, và “chiếc xe” chỉ là một cái tên giả định để nói về một tập hợp nhiều thành phần liên kết nhau.

Một ví dụ khác, cành hoa không có tự tánh, nó được tạo thành nhờ đất, nước, lửa, gió…Nó không thể tự nhiên có mà phải nhờ nhiều nhân duyên tương tác nhau mà thành. Vàng hay kim cương cũng được “sinh ra” như thế.

Hay quá! Nhưng chiếc xe và cành hoa vẫn là “Sắc”, vẫn là vật chất cho dù chúng ta phân nhỏ nó ra thành các hạt nguyên tử! Vậy tại sao lại gọi là “Không”?

Chữ “Không” ở đây không có nghĩa là không tồn tại theo cái nhìn hư vô. Mà nó có nghĩa là không có tự tánh cố định, vì không có gì riêng biệt, tự thân, độc lập nên mọi thứ đều chịu tác động của vô thường.

Tính Không luôn hiện hữu trong các sự vật, hiện tượng nên chúng mới có thể phát sinh và hoại diệt. Và bởi vì chúng trống rỗng về bản chất nên đức Phật mới giảng “Mọi thay đổi đều có thể“. Việc tiêu trừ đau khổ bằng Tứ Thánh Đế cũng như thực hành trên Bát Chánh Đạo để đạt giải thoát mới có thể thực hiện được.

Giả sử mọi thứ không có tính Không, tất cả đều hoàn toàn trong trạng thái tĩnh, bất biến, có thể gọi là “Hiện hữu vĩnh cửu“. Nó không cần một yếu tố nào để hình thành, vì thế, cũng không có yếu tố nào có thể thay đổi trạng thái của nó.

Nhưng vì điều này không tương ứng với sự biến đổi mà chúng ta thấy trong vũ trụ. Do đó, Bồ tát Long Thọ kết luận: Tính Không là bản chất của vạn vật, không có tự ngã, không có tự tính, trống rỗng và tùy thuộc vào nhân duyên.

Nhưng chính sự liên kết tạm bợ đó hình thành “Sắc tạm bợ” khiến chúng ta dích mắc vào chúng, từ đó sinh ra phiền não khi chúng ta kinh nghiệm sự thay đổi bất như ý của nó. “Trời ơi! Chiếc xe giành dụm bao nhiêu năm mới mua được giờ bị lấy mất thì làm sao tôi chịu nổi đây hả Trời…” Mọi thứ đều có tính Không từ khi chúng được sinh ra, vì thế, “chiếc xe bị mất” là điều tất yếu, có chăng chỉ là sớm hay muộn mà thôi.

Vậy là mọi thứ vừa sinh ra đã được “gắn nhãn” hoại diệt! Vậy chúng ta sống làm cái gì nữa chứ? Nhà cửa, tiền tài, danh vọng, vợ đẹp…Tất cả rồi cũng sẽ tan biến như chưa từng tồn tại. Nếu ai đó đang khổ, thì họ nên tự tử ngay để tái sinh kiếp khác xem có tốt hơn không? Kiếp nào không thuận lợi thì chết sang kiếp khác, giàu hay nghèo cũng như nhau. Trải nghiệm khoảnh khắc hạnh phúc trong mỗi kiếp mới là đều quan trọng!

Bạn đừng bi quan như thế, câu nói này có 2 vế mà! Bạn nên nhớ, tái sinh là do Nghiệp quyết định, nếu hiện tại bạn không làm việc để thay đổi trạng thái tiêu cực, cho dù bạn chết đi thì kiếp sau bạn cũng sẽ kinh nghiệm sự tiêu cực đó, thậm chí còn nặng nề hơn.

Bạn vừa mất chiếc xe, bạn đang đau buồn vì chuyện đó, tôi hiểu. Nhưng hãy nghĩ xa hơn một chút, mọi thứ đều có thể bắt đầu lại, Không Tức Thị Sắc. Nếu không có tính Sắc trong sự trống rỗng, bạn sẽ bị mắc kẹt trong việc không có chiếc xe vĩnh viễn.

Bạn đang không có một đứa con, bạn sẽ mãi mãi không có đứa con nào. Và quan trọng nhất là nếu không có tính Sắc trong Không, bạn sẽ không bao giờ xuất hiện trên cõi đời này, Trái đất, Mặt trời hay chiếc xe cũng thế. Mọi thứ đều có Duyên sinh và Duyên diệt, đó là quy luật của sự tồn tại.

Sắc Tức Thị Không – Không Tức Thị Sắc không phải là dạy chúng ta từ bỏ tất cả, mà nó giúp chúng ta có cái nhìn cân bằng hơn trong cuộc sống. Không chấp trước vào sự thay đổi dù tích cực hay tiêu cực, không bị mắc kẹt trong trạng thái tiêu cực ở hiện tại, không tức giận vì hôm nay trời nắng mà không mưa. Mọi thứ đều do nhân duyên mà tạo thành, nhân tốt thì quả tốt, mai là một ngày mới, đâu ai biết thủy triều sẽ mang đến điều gì.

Những Câu Cầu Nguyện Về Phật – 4 Loại Người 4 Ước Nguyện

0

LỜI CẦU NGUYỆN CỦA KẺ ĂN MÀY

Chuyện xảy ra ở Ấn Độ thời xa xưa, do Ngài đại sư Vivekananda thuật lại:

Một ông vua của một quốc gia hùng mạnh, giàu có – sau khi đạt vinh quang tột đỉnh, ông bèn nghĩ tới kiếp sau, bèn tham vấn các bậc đạo sư ở trong xứ. Nhưng ông không thể thỏa mãn với câu trả lời tầm thường, cạn cợt tầm thường của các đạo sĩ cung đình vốn dễ dãi.

Nghe đồn rằng, ở trên núi rừng xa xôi, có một nhà hiền triết, ẩn sĩđạo hạnh cao siêu, từng khổ tu khổ luyện đã mấy ngàn năm ròng và từ khước mọi tiện nghi vật chất. Ông vua này quyết tâm vượt mấy núi rừng cheo leo, hiểm trở để yết kiến và cung thỉnh nhà hiền triết này về kinh đô giảng dạy cho cả hoàng tộc lẫn bá quan triều đình.

Sau khi băng qua nhiều hiểm nguy và khó khăn, bằng các phương tiện sẵn có của một bậc quyền caochức trọng bậc nhất, nhà vua đã đến trước một am thất tre nứa nhỏ bé, có vẻ nghèo nàn rách rưới. Và nhà vua khấu đầu quỳ lạy rất tha thiết:

Nhà vua muốn được vị hiền triết ban ân bằng cách nhận một lễ vật của mình. Nhà hiền triết từ chối:

– Những trái cây trên rừng đã cho tôi đủ thức ăn, những dòng nước trong sạch từ núi chảy xuống, cho tôi đủ nước uống. Vỏ của những cây trong rừng đủ để cho tôi che thân. Và những hang hóc của núi này là nhà cửa của tôi. Vì sao tôi lại nhận lễ vật của vua hay của ai khác?

Nhà vua thưa:

– Chỉ để cho tôi hưởng được chút ân huệ xin ngài vui lòng nhận chút lễ vật từ tay tôi và xin ngài vui lònghãy dời gót ngọc, quá bộ về hoàng cung giảng pháp cho tôi và cả cho dân chúng đang mến mộ đức tu của ngài!

Vị đạo sĩ thản nhiên từ chối.

Qua ba bốn lần khẩn cầu vô cùng nồng nàn không kém chân thật, vị đạo sĩ mềm lòng và hứa rằng, sẽ về kinh thành giảng dạy xong ba thời pháp thì đạo sĩ sẽ từ biệt.

Đến kinh thành, nhà vua tổ chức lễ cúng dường và trao tặng, để cầu mưa thuận gió hòa. Trước lễ cúng dường, nhà vua bỏ ra một thời gian để cầu nguyện trước sự chứng minh của vị hiền triết.

Nhà vua cầu nguyện như sau:

Cúi lạy Thượng đế chí tôn chí kính,
Xin cho con bữa ăn hàng ngày dùng đủ.
Xin cho con thân thể được mạnh khỏe hơn,
Xin cho con nhiều con cái hơn,
Xin cho con nhiều của cải hơn,
Xin cho con đầy đủ sức mạnh để cai trị một quốc gia hùng mạnh và có thể thống trị cả thế giới.
Xin cho con giàu có hơn, đất nước thịnh vượng hơn.
Xin cho kẻ thù con càng ngày càng suy yếu và binh lực của con càng ngày càng hùng mạnh
Xin cho con…

Nhà vua vừa cầu nguyện đến đây thì… đạo sĩ tự nhiên biến mất hồi nào chẳng hay!

Nhà vua thất kinh hồn vía, vội ra lệnh lùng sục khắp nơi và ra buộc thuộc cấp phải kiếm cho ra tung tíchcủa đạo sĩ hiền triết. Nhưng, một lát sau, dân chúng phát hiện nhà hiền triết vừa ra khỏi hoàng thành và đang đi bộ có vẻ nhàn tản, vô ưu – phía sau là nhà vua cùng một bầy người ngợm đang rượt theo hối hả, gấp rút. Giây lát, nhà vua đuổi kịp đạo sĩ, ông vua vừa thở hồng hộc vừa thưa:

– Kính bạch Bậc Thầy chí tôn chí kính! Sao ngài lại bỏ đi như vậy?

Vị hiền triết quay mặt lại và nói:

– Tôi không ăn xin nơi kẻ ăn mày. Chính Ngài không khác gì hơn một kẻ ăn mày. Và làm sao ngài có thể trao tặng cho tôi thứ gì được? Qua lời cầu nguyện của ngươi vừa rồi, chứng tỏ ngươi là một kẻ ăn xin, một tên nô dịch của Thượng đế. Ta không cần quà tặng của kẻ ăn mày, dẫu là ăn mày của Thượng đế!

Ta không phải là người điên rồ để có thể nghĩ đến việc nhận một quà tặng của một kẻ ăn mày như ông. Hãy cút đi! Đừng có theo tôi!

(theo cuốn sách TÔN GIÁO LÀ GÌ? THEO LỜI DẠY CỦA ĐẠI Sư VIVEKANANDA, CỦA TÁC GIẢ JOHN YALE, Dịch giả: Vương Gia Hớn)

* * *

LỜI CẦU NGUYỆN CỦA NGƯỜI KINH DOANH

Người kinh doanh luôn luôn đặt nặng lòng tham lên trên hết. Từ việc làm ăn, giao dịch, buôn bán cho đến việc tình cảm đều lấy lòng tham của mình để trang trải giữa đời, chẳng bao giờ sử dụng lòng thương hoặc tri kiến cao thượng để hành xử với mọi người xung quanh.

Khi đến với tôn giáo, những người kinh doanh vẫn giữ thái độ cầu lợi hoặc trục lợi của mình.

Một lần nọ, hồi đó đất nước còn chưa phát triển mấy tôi đi tàu hỏa từ Saigon ra Huế, phải mất một ngày rưỡi. Tôi ngồi nghe hai người không quen tán chuyện với nhau. Một người nói:

– Ông đi lễ chùa Thiên Hậu chưa? Chùa này thiêng lắm, cầu chi là được nấy. Thằng con trai tôi thì vào y khoa, tui sắm lễ vật dâng cúng và cầu nguyện liên tục lên các thánh, quả nhiên thi đỗ ngay.

Người kia lắc đầu:

– Chẳng bằng cầu nguyện tại chùa Thiên Công ở bắc hà. Tui ăn nên làm ra cũng nhờ dâng lễ và cầu nguyện luôn luôn, quả nhiên vợ tui trúng “quả đậm” liên tục, gần chục năm ni hoài hoài như rứa! Rồi đầu tư vào bất cứ ngành nào cũng đều thành công quá mức! Vô cùng linh thiêng!

Am miễu nào thiêng, chùa nào linh ứng, tất cả quần chúng đều nườm nượp rủ nhau đến để cầu nguyệnvà dâng lễ.

Đó là tôn giáo đấy ư?

Thật ra, đó chỉ là lòng tham biến dạng dưới hình thức này, dưới lốt vỏ khác mà thôi! Thay vì đặt tiền củavà lòng tham vào một canh bạc, thì những kẻ ấy bị gọi là dân đổ bác (dân máu mê cờ bạc). Nếu bây giờ người ta lại chằm hăm gởi tiền bạc cùng lòng tham vào các am miễu, chùa chiền, và vũ khí chuyên dùng là cầu nguyện, xin xỏ Ơn Trên – thì những người ấy được gọi là “con nhang đệ tử”, hoặc là thành viên một đạo tràng nào đó! (tội nghiệp đức Phật quá!)

Như vậy, có phải là cầu nguyện hay không?

Cầu nguyện không phải là ham muốn,
Chẳng phải là: đòi hỏi được mới thôi,
Nói “cầu nguyện” nghĩa là sai,
Chỉ là dục vọng kéo dài tham tâm,

Là dục vọng chỉ làm ta thêm mệt,
Càng cầu xin, càng phết bùn đen,
Bôi lên nét mặt ưu phiền,
Làm đời chùng thấp, chẳng thèm vượt hơn!

Sự cầu nguyện bằng lòng tham và si mê như trên, không khác gì sự xin xỏ, phó thác thân phận vào sự ban ơn của một đấng siêu nhiên.

Nhưng, cầu nguyện theo tuệ giác của Phật thì hoàn toàn không phải như vậy. Người cầu nguyện phải hoàn toàn tự chủ, phải hiểu rõ luật nhân quả và quan trọng là phải thực hành cải ác hướng thiện nhằm mục đích chuyển hóa nghiệp lực của bản thân.

Hay nói cách khác, sự cầu nguyện chỉ nhằm mục đích là thắp lên ngọn đèn tỉnh thức trong tâm, từ đó giúp người cầu nguyện tự thăng hoa, chuyển hóa thân tâm theo hướng tích cực để được an lạc trong cuộc sống.

Còn thực tế, không có ông Phật nào ban phước giáng họa cho họ cả. Và càng sai lầm nếu ai đó nghĩ rằng, mình sống trái với quy luật rồi cầu nguyện, cúng dường lên Phật là có thể tránh được hậu quả! (Trung tâm Pháp Quang Hà Nội)

Bản chất của cầu nguyện là không có gì sai trái, nhưng con người bây giờ lại “đeo mặt nạ”, tô son trát phấn lên thành ra những trò chơi rẻ tiền cốt để cầu lợi!

“Cầu nguyện vì thế chính là phương pháp nhìn lại con người thật của mình, quan sát tâm mình và trừ khử khát vọng phàm tình, ích kỷ, ỷ lại, yếu đuối. Cầu nguyện là một cách định tâm định ý để chuyển hóalòng mình, lòng người” (Thích Tịnh Từ). Hay nói bằng ngôn từ khác, “Cầu nguyện là tiến trình làm phát khởi trạng thái cao thượng nhất là Phật tính của chúng ta. Một tiềm năng mà mọi người đều sở hữu bình đẳng như nhau. Phật tính là năng lượng sự sống căn bản và yêu thương vốn có trong vũ trụ. Cầu nguyện là tiến trình chuyển hóa những xung lực ham muốn ích kỷ thành tình thương vị tha”.

LỜI CẦU NGUYỆN CỦA NGƯỜI MINH TRIẾT

Ấn Độ là một quốc gia nổi tiếng với những người minh triết.

Dưới đôi mắt của một người minh triết thực sự, thì có hai loại tôn giáo: Tôn giáo quần chúng và tôn giáochân thật.

Bởi vì chúng ta thường hay lầm lẫn giữa tôn giáo quần chúng và Tôn Giáo Chân Thật.

Tôn giáo quần chúng thì được bày biện ra nhiều hình thức để làm thỏa mãn thị hiếu của đám đông mê muội, như cầu nguyện xin xỏ Ơn Trên một thứ gì. Công việc của tín đồ là chỉ tập trung vào cầu nguyệnkiểu xin xỏ, van xin, mà thôi. Đối với quần chúng thì, tôn giáo chỉ là cầu nguyện, van xin, dâng lễ thành, một hình thức trao đổi như dâng cúng Ơn Trên một số phẩm vật rồi đòi hỏi được ban cho chút ân huệ: bình an cho gia đình, kinh doanh làm ăn phát tài, phát triển về mặt vật chất, tiền bạc, sức khỏe…vv…. Chấm hết. Không hơn các tôn giáo sơ khai thời cổ đại.

Còn tôn giáo chân thật chỉ yêu cầu duy nhất là: Thiền Định. Thiền định vừa là chìa khóa, vừa là cánh cửa mở ra tất cả cánh cửa rộng lớn của Tâm linh. Nếu có cầu nguyện, thì cầu nguyện chẳng qua là biểu lộ lòng tri ân, lòng cảm ơn Chư Phật hoặc Thượng đế. Không có xin xỏ, nài nỉ, cầu mong bất cứ điều gì.

Điều này thật ra rất khó chấp nhận.

Nếu bạn muốn tiếp cận tôn giáo chân thật thì, điều kiện tiên quyết là bạn phải bước ra khỏi tâm thức tôn giáo quần chúng. Bạn phải dũng cảm, liều lĩnh làm một cú nhảy tuyệt phích đi vào cánh cổng của TÔN GIÁO CHÂN THẬT.

Chỉ khi đó, cho tới khi đó, bạn sẽ biết bạn là ai và đức Phật là ai?

Cách đây hơn 800 năm, ngài Thân Loan xuất hiện ở Nhật Bản để xiển dương Tịnh độ Chân tông và giáo lý cơ bản và gần gũi nhất mà Thân Loan chỉ dạy cho tín đồ, là: Niệm Phật là bày tỏ lòng tri ân đến với đức A Di Đà mà thôi! Ngoài ra, không đòi hỏi bất cứ điều gì khác.

Lời cầu nguyện đơn giản nghĩa là lòng biết ơn, lời cảm ơn.

Đức Phật có cái tâm vô hạn,
An ủi và độ thoát thế gian,
Thương yêu nhân loại quá chừng,
Chực căn nhà lửa, vội vàng cứu ra,

Chúng sanh quả thật là nghịch bội,
Không bao giờ biết nói tri ân,
Cầu nguyện: một hoặc nhiều lần,
Là ta gởi tiếng cảm ơn lên Ngài,

Không phải là đòi hỏi, hoặc cầu xin được ban cho một cái gì!

Bởi vì chư Phật, Bồ-tát ở trên cao, ở khắp nơi trong vũ trụ đã biết rõ cõi lòng chúng ta cần gì, muốn cái chi. Cho nên chúng ta không cần bày tỏ bằng những lời phàm tục, nặng nề ham muốn, rối rắm đòi hỏi – để làm chi?

LỜI CẦU NGUYỆN CỦA NGƯỜI NIỆM PHẬT

Thành thật mà nói, Phật giáo tuyệt không có cầu nguyện như các tôn giáo khác. Từ ngày tập tễnh bước vô cánh cửa giải thoát của đức Phật tôi chưa hề nghe các bậc thầy giảng dạy về một cái gọi là cầu nguyện!

Thông thường, các tu sĩ hoặc cư sĩ Phật giáo thực hành sám hối và phát đại nguyện. Gồm có: phát lộ sám hối, nghĩa là bày tỏ những lỗi lầm trong quá khứ – sau đó phát bồ đề tâm, tức là phát đại nguyện để cứu độ chúng sanh – đó mới gọi là sám hối chân chính. Ví dụ:

Khi thấy và nghe các con bò bị hành hạ, bỏ đói, áp chế để loài người lấy sữa, thì người Phật tử phát nguyện như sau:

Đệ tử hôm nay đối trước mười phương Chư Phật, Chư Tôn Pháp, Chư Hiền Thánh Tăng, xin đem tâm đại từ đại bi mà chứng giám:

Từ nay trở đi cho đến ngày giác ngộ, chúng con nguyện sẽ nâng đỡ, đùm bọc, che chở hết thảy vô lượng vô biên chúng sanh; chúng con mở lòng thương xót, yêu mến, gần gũi, chia xẻ đối với tất cả loài bò cùng tất cả các loài khác. Nếu có chúng sanh nào bị các ách nạn, cưỡng bức, giam giữ, bỏ đói, bỏ khát, áp chế – chúng con thề đem thân ra cứu vớt, chăm sóc, ấp ủ, làm cho các chúng sanh ấy được an ổn, hân hoan.

Nguyện xin mười phương cùng tận hư không giới, hết thảy Tam Bảo chứng minh cho chúng con.

Phát đại nguyện xong rồi, chúng con gieo năm vóc xuống sát đất, xin đảnh lễ Tam Bảo…

Nam mô A di đà Phật …

* * *

Hoặc, chẳng hạn như, một vị tu sĩ muốn dứt bỏ cái nghề “Đi cúng kiếm tiền” bèn nương tựa sức gia hộcủa đức Phật và Bồ-tát bằng cách phát nguyện:

Đệ tử hôm nay đối trước mười phương Chư Phật, Chư Tôn Pháp, Chư Hiền Thánh Tăng, xin đem tâm đại từ bi mà chứng giám:

Đệ tử nguyện từ nay cho đến cùng tận biên cương của thời gian vị lai, quyết định hoằng dương Phật pháp, làm cho chánh pháp tồn tại lâu dài.

Đệ tử nguyện xả bỏ thân mạng, tài sản và cả danh dự của mình để chấn hưng Phật pháp, làm cho ngọn đèn chánh pháp càng ngày càng tỏ rạng, không để lu mờ, khiến chúng sanh hưởng dụng pháp lạc mãi mãi khôn cùng.

Nam mô A di đà Phật…

* * *

Nếu có cầu nguyện, thì người Phật tử theo Tịnh độ chỉ hành động như vậy – nghĩa là bày tỏ tâm tình của mình xong rồi phát đại nguyện cứu độ chúng sanh – vì ai hết, người Phật tử biết chắc rằng: Không ai có thể thành Phật một mình cả. Khi tôi thành Phật thì tất cả chúng sanh phải thành Phật trước tôi.

Đó là những gì mà Đại thừa Phật giáo đã dạy chúng tôi!

Hôm nọ, tôi ghé thăm một ngôi chùa chuyên niệm Phật, trong lúc rảo bước viếng cảnh quan thiền môn, tình cờ nghe các em Oanh Vũ vừa đi vừa vỗ tay nhịp nhàng và hát một khúc ca có vẻ quen thuộc:

“Cho tôi làm vầng mây thướt tha,
Chọn tòa sen tịnh độ làm nhà,
“Cho tôi làm cánh chim tần-già,
Bay chuyền khắp Xứ Phật bao la,
“Cho tôi làm nụ hồng đơm hoa,
Đem sắc hương lấp cơn tàn tạ,
“Cho tôi làm điện thờ nguy nga,
Để vĩnh kiếp là trụ xứ của A Di Đà… “

Bài hát này có vẻ hùng tráng, tha thiết – xem ra như một lời cầu nguyện, tôi hỏi một em lớn tuổi nhất:

– Ca khúc này ai bày cho em hát, và tác giả là ai?

Em bé cười như tiếng hót ngọt ngào một loài chim kiên nhẫn và đầy tình thương, thường vang vọng khắp cõi ta-bà mịt mờ sương khói:

– Chẳng có ai dạy và không biết ai là người bày đặt ra bài hát ni. Chỉ vì nó là bài hát mà!

Tôi chỉ biết chắp tay:

– Cảm ơn em! Nam mô A di đà Phật!

* * *

Nam mô A di đà Phật,
Nam mô A di đà Phật,
Nam mô A di đà Phật…

KHỞI TÂM ĐỘNG NIỆM, QỦY THẦN ĐỀU BIẾT

* * *

Thời nhà Tống có một vị An Thiền Sư ở chùa Quang Hiếu. Trong thiền định ông nhìn thấy có hai người xuất gia đang nói chuyện. Ban đầu hai người này nói chuyện, bên cạnh có thiên thần ủng hộ, thế nhưng trải qua không bao lâu mấy vị thiên thần này đi mất. Sau đó có một số ác quỷ đi đến, quỷ vây quanh lấy họ, nhổ nước bọt vào mặt họ, mắng chửi họ. Nguyên nhân gì vậy?

Lý do như thế này: Khi hai vị xuất gia này cùng nhau nói chuyện, ban đầu là bàn luận Phật pháp nên thiên thần ủng hộ. Sau khi nói Phật pháp xong, họ bàn chuyện gia đình nên thiên thần đi mất. Sau đó lại nói đến danh vọng lợi dưỡng thì ác quỷ liền đến.

Chúng ta phải nên biết, khi khởi tâm động niệm, ta niệm một niệm chân thiện, thì chư Phật hộ trì, che chở, chư long thiên thiện thần ủng hộ. Khi chúng ta phát sinh một ác niệm vừa mới dấy khởi, thì yêu ma quỷ quái liền kéo đến. Cho nên, thảo luận chuyện thế gian đều bị quỷ thần khiển trách, nếu như tư tưởng chúng ta mà nghĩ đến danh vọng lợi dưỡng thì đó là tạo thêm vọng nghiệp, mà khiến cho chư thiện thần, chư Bồ-tát đều xa lánh.

Chúng ta nghĩ thử xem, con người hiện tại thân-khẩu-ý ba nghiệp đã tạo, thực thế mà nói cùng với những người xuất gia này có hơn chứ không kém. Tại sao như thế? Bởi vì người xuất gia tuy nói chuyện thế gian nhưng vẫn còn thảo luận loanh quanh các đề tài Phật pháp, còn chúng ta bây giờ gặp mặt đều nói chuyện ích kỷ, tào lao chỉ nhằm mang lại lợi lộc dơ bẩn mà thôi! Mấy ai còn thảo luận Phật pháp?

Cho nên chúng ta cần phải hiểu rõ ràng, trong thời buổi này, thế gian đang lâm vào tình cảnh “Pháp nhược, Ma cường”, nếu chúng ta ưu tư những việc hoằng pháp lợi sanh, thì đương nhiên, làm gì không gặp chướng ngại? Chỉ cần chúng ta giữ tâm niệm sao cho chân thật, và hành động sao cho chánh đại quang minh. Có được thời gian của một ngày thì làm việc tốt một ngày. Mà trong việc tốt, thì cao đẹp nhất, thù thắng nhất chính là công việc hoằng pháp lợi sanh.

Nếu chúng ta làm được như vậy, thì các vị Bồ-tát và thiện thần luôn theo dõi và ủng hộ, không cần phảixin xỏ, đòi hỏi gì cả. (trích Truyện cổ Trung Hoa)

* * *

TU HÀNH CHÂN THẬT ĐƯỢC HỘ PHÁP PHÙ HỘ

Hòa thượng Thích Thiền Tâm kể chuyện:

Ngày xưa, có một vị thiền sư nọ tu hành rất tinh tấn, quyết chí chứng ngộ ngay trong kiếp sống này, nên từ bỏ chức vị trụ trì của một ngôi đại tự nổi tiếng ở thành thị không luyến tiếc. Một mình một bóng, Sư lần mò lên những dãy núi chót vót hiểm trở, kiếm tìm một hang động ẩn khuất để tu tập.

Ngoài việc thọ thực mỗi ngày một bữa ăn đạm bạc, gồm rau rừng luộc chín với một dúm cơm tấm, Sư dành toàn bộ thời gian cho việc chuyên tâm tọa thiền theo câu thoại đầu mà vị tổ sư chỉ dạy. Nhưng tu hành nghiêm ngặt suốt mấy năm liền khổ nhọc đến thế, Sư vẫn cảm thấy chưa tiến bộ bao nhiêu, bởi vì mỗi lúc tọa thiền, ngài thường hay ngủ gục, nên kết quả chưa được như ý. Một tu sỹ bản chất kiên cường đâu dễ nhanh chóng đầu hàng con ma lười biếng đến thế ư ?

Sư nghĩ ra một phương pháp tuyệt hảo để đối trị căn bệnh ngủ gục của mình.

Thế là từ hôm sau, Sư ra bên sườn núi, trèo lên một mỏm đá cạnh miệng vực sâu hun hút, và chững chạc ngồi thiền. Vì biết rằng, nếu sơ sẩy ngủ gục trong giây lát, thì mình sẽ rơi xuống vực thẳm và sẽ tan xương nát thịt ngay lập tức. Do vì phải đối phó với cái chết thường trực xảy ra bất cứ lúc nào, nên Sư chẳng dám ngủ gục như trước, luôn luôn tỉnh táo, nỗ lực làm chủ công phu thiền định của mình.

Nhưng, tâm trí cùng thân thể của Sư cứ mãi căng thẳng hoài được sao? Mấy hôm đầu tiên thì Sư cảm thấy mình có thể chịu đựng nổi, nhưng qua vài tháng, Sư bắt đầu thấm mệt: sức khỏe dường như hao tổn và gân cốt suy kiệt quá nhiều. Càng ngày, càng mệt mỏi, phờ phạc hẳn đi, đến nỗi hôm nọ Sư đã ngủ gục hồi nào không hay.

Và đương nhiên, bậc chân tu khổ hạnh này đã rơi tõm xuống vực, với tốc độ kinh hồn. Dù sao, với công phu bấy nay, vẫn giúp Sư tỉnh táo biết rằng mình sắp chết. Sư bèn nhắm mắt, nhất tâm tưởng nhớ đến Phật, và cầu nguyện được thác sanh vào một cảnh giới tốt lành để dễ bề tu tập trong kiếp sắp tới.

Bỗng dưng, sự kiện kỳ lạ đột ngột xảy ra: Sư thấy thân thể mình treo lơ lửng giữa thinh không. Dường như có một bàn tay rất to tướng đang từ từ nâng thân thể của Sư lên mỏm đá. Hú hồn vì đã thoát chết, lại thấy mình ngồi trên tảng đá như trước, nhìn xuống dưới kia vẫn làì đáy vực đen ngòm.

Sư tự hỏi:

– Tại sao ta lại không chết? Hay là có vị thần linh nào cứu ta chăng?

Bất thần, một tiếng nói vang lên giữa cảnh núi rừng tịch mịch:

– Vâng. Tôi vừa cứu Ngài chứ ai nữa!

Vô cùng kinh dị, sư hỏi:

– Ông là ai?

Vẫn tiếng nói ấy vang lên:

– Tôi là Hộ Pháp, với đại nguyện hộ trì tất cả những bậc chân tu trên cõi Nam Diêm-phù-đề này.

– Tại sao Hộ Pháp cứu tôi?

– Vì tôi thấy ngài tu hành rất tinh tấn, nên theo giúp đỡ, bảo vệ. Luôn luôn ở sát bên lưng ngài bấy lâu nay, mà ngài không hề hay biết đó thôi!

Thiền sư sung sướng quá, vui vẻ bắt chuyện:

– Ông là Hộ Pháp, chắc nhiều dịp du hành khắp thế giới ta-bà này, phải không?

Vị hộ pháp tuy ẩn mình trong hư không, nhưng vẫn cao giọng trả lời:

– Vâng. Tôi thường xuyên du hành khắp mọi nơi trong cõi ta-bà này, và đã từng gặp gỡ không biết cơ man nào là những bậc xuất gia chân chính, hiện đang nỗ lực tu hành tinh tấn để chóng đạt đến giải thoát viên mãn…

Thiền sư vừa mừng rỡ, vừa đắc ý hỏi:

– Như vậy, Hộ pháp có khi nào gặp được người nào chí khí tuyệt vời, tu học giỏi giang và công phu tinh tấn như tôi không?

– Nhiều lắm. Người tu hành tinh tấn như ngài rất đông. Vô số kể. Nhưng kẻ giỏi giang hơn ngài cũng gấp bội, cũng nhiều như cát sông Hằng.

– Thiệt hả?

– Vâng. Tôi nào dám nói dối. Nhưng tôi cũng ngỏ lời từ biệt ngài vĩnh viễn. Tôi xin báo cho ngài biết trước rằng, kể từ hôm nay, tôi không còn theo dõi và hộ trì ngài như trước nữa!

Thiền sư sửng sốt:

-Tại sao Hộ Pháp bỏ rơi tôi đành đoạn như vậy? Hộ pháp có thể cho tôi biết rõ lý do hay chăng?

Hộ pháp cười nhạt:

– Chẳng vì sao cả. Ngài đã buông lời kiêu căng, ngã mạn, nên công đức tu hành bấy lâu đã tiêu tan, chẳng còn gì hết.

Ngài từng đọc tụng kinh điển chắc đã rõ: Chướng ngại to lớn nhất của người tu, đó là Cái Ngã. Một khi cái Ngã càng trương phình, thì càng gây khó khăn cách trở cho sự nghiệp tu hành. Đồng thời, Cái Ngã ấy sẽ hủy diệt tất cả công đức mà mình thu hoạch bấy lâu. Khiêm tốn là bước khởi đầu của những người nhiệt thành cầu đạo bồ đề. Càng kiêu căng ngã mạn, thì người tu càng khó chứng ngộ, và có thể nói rằng, kẻ nào còn ló ra một chút xíu kiêu căng, phách lối, thì không những không thể chứng ngộ, mà ngược lại y luôn luôn bị giam nhốt trong vòng ngu si, dốt nát và ảo tưởng. Vì thế, tôi không thể theo bảo vệ, hộ trì một kẻ kém khuyết đức độ như ngài nữa!

Rừng núi trở lại hoang vắng, im lìm.

Dường như vị hộ pháp đã biến mất thực sự rồi, nên thiền sư chẳng còn nghe giọng nói vang lên tự thinh không. Chỉ xạc xào tiếng gió vờn quanh những mỏm núi đá nhọn hoắc.

Thiền sư tỏ ra vô cùng ân hận, vì mình trong lúc mừng vui đã không kềm chế được bản thân nên trót buông những lời lẽ quá ư kiêu ngạo, khiến công đức tu tập bị trôi theo dòng nước ngu si.

Nước mắt chảy ròng trên đôi gò má xương xẩu, thiền sư rùng mình, vội chắp tay, cúi đầu:

– “Nam mô A Di Đà Phật, cho con xin sám hối những lỗi lầm của kiếp hôm nay cũng như vô tận kiếp sống trong qúa khứ. Nammô A Di Đà Phật, Nam mô A Di Đà Phật Nam mô A Di Đà Phật…

Trong cơn xúc cảm mãnh liệt, Sư niệm Nam mô A Di Đà Phật không ngớt. Lát sau, bỗng dưng xót thương mình vô cớ đánh mất biết bao công đức tu tập, tâm hồn Sư bỗng rung động cuồng nhiệt và ngài lại vừa khóc lóc vừa cất tiếng xướng niệm Nam mô A Di Đà Phật liên tục, liên tục. . .

Cuối cùng, Sư bùi ngùi :

– “Thôi thì đành vậy. Lỗi tại ta quá kém cỏi nên Hộ Pháp không còn ủng hộ như trước nữa, nhưng dẫu sao cũng phải ráng tu, chứ làm sao bây giờ?”

Thiền sư lại tiếp tục công phu chuyên cần như trước. Vẫn kiên gan ngồi bên cạnh mỏm núi để tập trung tham thiền, quyết không lùi bước.

Rồi một ngày kia, quá mệt mỏi ngài lại bị lăn nhào xuống vực.

Bây giờ, sư tin chắc Hộ Pháp không còn ra tay nghĩa hiệp nữa, Hộ Pháp sẽ không còn ở bên cạnh để kịp thời cứu vớt mình khỏi cơn nguy khốn nữa. Sư giữ tâm chánh niệm để mong được thác sanh vào dòng dõi nhà Phật. Đây là quan điểm của Thiền tông: lúc sắp lâm chung, họ biết rõ tầm quan trọng của việc làm sao để giữ cho tâm mình được ở trong chánh niệm, với mục đích được hạ sanh trong gia đìnhcó tín ngưỡng Phật pháp, hoặc sinh ra trong những xứ sở có đức Phật xuất hiện, hội đủ điều kiện tu họcđạo Phật.

Lần này bất ngờ hơn, Sư vẫn thấy mình được một bàn tay khổng lồ đưa mình lên tận chỗ ngồi trên tảng đá.

Qúa sức kinh dị, bởi vì sự kiện xảy ra ngoài sức tưởng tượng của mình, Sư hỏi lớn:

– Ai cứu ta đó?

Lại giọng nói quen thuộc vang lên :

– Ta là Hộ Pháp đây!

– Ủa, ông bảo rằng từ nay sẽ không theo hộ trì tôi nữa kia mà?

Vẫn tiếng nói từ thinh không vang vọng:

– Vâng. Đúng như vậy. Tôi là Hộ Pháp đây! Trước đây, tôi quyết định bỏ rơi ngài chỉ vì sự kiêu căngphách lối của ngài đã thiêu hủy tất cả công đức tu hành vốn có của mình. Nhưng trong khoảng thời giansau đó, ngài lại xưng niệm Nam mô A Di Đà Phật liên tục như thế, cho nên tôi lại ủng hộ ngài như trước.

– Chỉ vì thế thôi ư?

– Vâng. Danh hiệu Nam mô A Di Đà Phật có năng lực thù thắng, vi diệu bậc nhất, không những rửa sạch tội lỗi của ngài trong vô lượng kiếp xa xưa, mà còn hiển lộ tất cả công đức không thể nghĩ bàn của tất cả chư Phật mười phương. Cho nên tôi lại tình nguyện bám sát ngài mãi mãi, để âm thầm hộ trì, tạo tất cả mọi điều kiện thuận lợi tu tập, kể từ nay cho đến khi ngài giải thoát, chứng quả.

Hết chuyện!

* * *

CẦU NGUYỆN LÀ BÀY TỎ LÒNG TRI ÂN

* * *

Đúng thật như vậy, chúng ta suy nghĩ việc gì, hành động ra sao, nói năng thế nào – đều được quý vị thiên thần, hộ pháp theo dõi và quán sát hết thảy! Cho nên nếu có cầu nguyện thì không nên mất côngkể lể dông dài, trần tình nỗi lòng của mình làm chi. Và cũng chớ có cầu nguyện bằng cách như thế, vô ích!

Cầu nguyện như vậy là trao đổi, gần như là mua bán với thần thánh, với chư Phật, Bồ-tát mà thôi!

Và nếu bạn cứ để cho lòng tham chảy tràn lan trên khắp đầu môi, thì đó là chơi trò ngôn ngữ với Ơn Trên, với đấng quyền năng chứ không phải là lời cầu nguyện đâu. Đùa với thánh thần, giỡn cợt với niềm tin của người tu chân chính.

Vậy nên đừng gọi là lời cầu nguyện.

Một thi sĩ tâm linh của Ấn Độ đã viết:

Hãy nhìn vào điều mà đức Phật và chư Bồ-tát đã làm cho bạn! Ngài đã cho bạn cuộc sống và tình yêu và niềm vui. Ngài đã cho bạn sự nhạy cảm vô cùng về cái đẹp. Ngài đã cho bạn sự nhận biết. Ngài đã cho bạn khả năng trở thành vị Phật. Bạn còn muốn gì hơn nữa?

Hãy cảm thấy biết ơn, và thế thì lời cầu nguyện có cánh, chúng có thể bay lên, và đạt tới điều tối thượng. Thế thì đất không thể lôi kéo được. Thế thì chúng bắt đầu vươn lên, soãi cánh bay lên, như khinh công. Với ham muốn, xin xỏ thì lời cầu nguyện bị hút xuống; không thể khinh công được.

Nhưng hàng triệu người cứ cầu nguyện theo thái độ này: họ cầu nguyện chỉ khi họ cần cái gì đó hoặc để xin Ơn Trên ban cho cái gì đó!

Đừng hỏi xin cái gì cả.

Cầu xin bất cứ cái gì cũng đều sai lầm!

Vì đức Phật, chư Bồ-tát đã ban cho chúng ta Tất Cả rồi, chúng ta chỉ đón nhận bằng cách niệm Phật – Nam mô A di đà Phật mà thôi! Thế là đủ lắm!

Hãy cám ơn ngài về tất cả những điều ngài đã làm. Hãy khấu đầu cúi lạy! Hãy gieo năm vóc sát đất mà đảnh lễ chân thành và tri ân. Trong sự biết ơn, chỉ cần tới tấm lòng, do đó, lời nói thì không được sử dụng tới, vô ích. Hãy cúi lạy trong lòng biết ơn sâu sắc, trong im lặng.

Lời cầu nguyện thực ra là không nên nói ra bằng ngôn ngữ; vì lời nói là không thích hợp. Ngôn ngữđược dành cho những tất cả những thứ giao dịch khác, ngoại trừ lời cầu nguyện.

Vâng, thỉnh thoảng bạn thấy nước mắt lăn dài từ mắt bạn, và chúng còn có ý nghĩa nhiều hơn là mọi lời bạn có thể thốt lên. Hay chỉ im lặng, hoặc niệm Phật bởi vì niệm Phật là lời cầu nguyện vi diệunhất!

Và bạn sẽ vô cùng ngạc nhiên: ánh sáng trí tuệ bắt đầu trút lên con người bạn, lên cuộc đời bạn. Bạn được dầm mình trong phước đức, trong ân huệ thiêng liêng và cao cả.

Lời nói đôi khi chìm giữa cuộc,
Càng nói nhiều, diễn tả được đâu?
Im lặng sấm sét – nhiệm mầu,
Triệu cơn địa chấn xuyên thâu cõi huyền!

Im lặng: là lời cầu nguyện đệ nhất,
Cảm thông đến Đức Phật A DI ĐÀ,
Từ trong sâu thẳm nở hoa,
Mười phương pháp giới chan hòa Tri Ân,

CÓ MỘT CUNG CÁCH CẦU NGUYỆN

* * *

Cầu nguyện theo truyền thống Vedanta (Vệ Đàn Đà) nghĩa là tiêu trừ bản ngã, làm sao cho đến khi bản ngã trở nên thuần khiết, để thành tựu tâm linh và hòa nhập với Chân Ngã.

Đó là mục đích của những người minh triết đúng nghĩa.

Và sau đây là phong cách cầu nguyện của họ:

Bất cứ lúc nào, họ cũng chỉ nói trong lặng lẽ, xúc cảm như thế này:

Con biết con là Ngài, nhưng con vẫn đem bản thân tách rời khỏi Ngài… Để khao khát Ngài như tri kiếnvô thượng. Để sùng bái Ngài như châu báu vô giá. Để hưởng thụ Ngài như đấng thân yêu…

Hoặc là:

– Tôi tìm giàu sang trong thế giới này, Ngài là sự giàu sang duy nhất mà tôi tìm kiếm được, tôi xin cung hiến bản thân tôi cho Ngài.

Tôi đi tìm một ai để yêu thương, Ngài là người yêu thương nhất mà tôi tìm kiếm được, tôi xin dâng hiến bản thân tôi cho Ngài.

Nếu cần, chúng ta hãy lập đi lập lại suốt ngày và đêm như thế này:

– Không có gì cho tôi cả. Bất luận công việc ấy tốt hay xấu, sang hay hèn, hoặc vô quan hệ… tôi đều không cần đến. Tôi xin dâng hiến tất cả cho Ngài.

Ngày và đêm, chúng ta hãy từ bỏ cái bản ngã của chúng ta cho đến khi trở thành thói quen, cho đến khi thấm vào máu, vào thần kinh, vào não bộ, và trọn cả thể xác bất cứ lúc nào cũng phục tùng quan niệmkhắc kỷ này. Đến chừng đó, bạn hãy đi vào giữa chiến trường dầy tiếng đại bác vang rền và huyên náo của chiến tranh, và bạn sẽ tự thấy mình tự do và hoan lạc hơn bao giờ hết.

CẦU NGUYỆN NGHĨA LÀ NÓI CẢM ƠN! CẢM ƠN!

Đây là một truyện ngụ ngôn của đại văn hào Léon Tolstoi, người Nga:

Văn hào Léon Toltoy lúc quá tuổi trung niên, ông bỗng phát triển khuynh hướng tâm linh rất mực. Tuy theo Chính Thống Giáo của Nga nhưng niềm tin của ông vẫn nghiêng về một vị Thượng Đế siêu hình, vô ngã và phổ quát – Thượng đế ở khắp mọi nơi và cả trong lòng mỗi người. Quan điểm của Léon Toltoy về Cầu Nguyện chỉ là nói lên lời cảm ơn đến Thượng đế mà thôi!

Câu chuyện về ba người dân quê xứ X. bỗng dưng trở thành trung tâm điểm của vô số lời truyền miệng vang khắp các vùng lân cận.

Đó là những con người bình thường như tất cả những người dân quê khác nhưng thiên hạ bảo nhau rằng, ba người dân quê ấy quả là những con người thánh thiện bậc nhất, không phải vì họ sẵn sàng tạo ra những phép lạ hiếm thấy, kỳ đặc, không phải vì những vầng hào quang luôn luôn che phủ và bao bọc họ đêm ngày, mà theo lời tường thuật của những người may mắn sống gần họ, thì chính khuôn mặt tràn đầy từ ái cũng như nhân cách tuyệt vời của họ đã khiến cho tất cả mọi người tôn trọng và quý mến ba người dân quê này. Điều này dẫn tới sự kiện: mọi người ở khắp những vùng xung quanh đã lũ lượtchen nhau đến yết kiến và xin được ban phúc lành từ những người dân quê mà họ sùng bái như là những bậc thánh ấy.

Vị Tổng Giám Mục của Chính Thống Giáo (của nước Nga) hôm ấy tỏ ra vô cùng tức giận khi nghe đượctin này. Ngài quở:

– Ba gã nhà quê kia làm gì mà ban phép lành cho những con chiên của ta? Bọn chúng mà cũng có phép lạ ư? Thật là không thể nào tin được. Đây là thời buổi nào mà bọn tà giáo xuất hiện nhiều đến như vậy?

Những vị thầy tu trong giáo xứ thưa rằng:

– Đó là những con người vô danh, thất học, hoàn toàn mù chữ và không bao giờ giữ được chức vụ cao cấp trong nhà thờ. Nhưng, mọi người đều nghĩ rằng, họ là những người thánh thiện bậc nhất. Đây có thể là một sự bịp bợm trắng trợn, chưa từng xảy ra trong giáo hội chúng ta!

Cho đến bây giờ, trong đạo Thiên Chúa nói chung, chừng nào mà giáo hội La-mã còn chưa xác nhậnmột người nào là Thánh, thì người ấy không thể là Thánh được. Thật ra, trên bình diện Chân lý thì: Tính cách thánh thiện thì không cần phải được xác nhận bởi bất cứ ai. Tính thánh thiện ngay tự bản thân nó đã là bằng chứng thực sự. Khoảnh khắc bạn thấy và cảm nhận, không cần một sự xác nhận của bất kỳ ai khác. Nhưng viên giám mục này lại vô cùng giận dữ: ”Nếu không được phép của ta, không có sự chấp nhận của ta thì làm sao ba thằng ngốc ấy lại trở thành Thánh được?”

Mệnh lệnh của Giám Mục lại không được thi hành đúng đắn, bởi vì mọi người đều không ai cần đến xem lễ nhà thờ và xin phép lành của Giám Mục mà ngược lại, họ rủ nhau đến viếng ba vị Thánh nhânhiện đang cư ngụ tại một nơi xa xuôi, hẻo lánh kia.

Cuối cùng, viên giám mục quyết định thân hành tới tận nơi để xem điều gì đang xảy ra.

Đường sá vô cùng cách trở, muốn đi tới chỗ ở của Ba Vị Thánh kia thì buộc phải sử dụng thuyền máy, bởi vì họ hiện đang ở trên một hòn đảo nhỏ, hòn đảo nhỏ đến mức chỉ có một cây cổ thụ đứng giữa trời không mông quạnh, với chiếc tàng rất rộng và đẹp. Ba vị thánh kia đang ngồi ung dung dưới tàng cây ấy.

Thoạt nhìn qua, giám mục biết ngay: ba người dân quê này hoàn toàn thất học, mù chữ và không hề kinh qua bất cứ nền giáo dục tôn giáo nào.

Ai đã tung ra những tin đồn nhảm này? Và tại sao mọi người lại quá mức khờ khạo đến nỗi tôn thờ những thằng nỡm, quê mùa và ngốc nghếch như thế này?

Và khi giám mục bước xuống thuyền thì cả ba người dân quê kia vội vàng chào đón một cách cung kính, bằng việc quỳ xuống và cúi hôn bàn chân của giám mục.

Giám mục hỏi:

– Phải chăng các vị chính là ba Thầy Tu, ba bậc thánh mà cả nước đang nhắc đến đấy ư?

Ba người dân quê thưa:

– Chúng tôi không phải là thầy tu, thánh nhân gì ráo trọi, và chúng tôi cũng chẳng biết gì đến mọi việcđang xảy ra gần đây. Đột nhiên, chúng tôi thấy mọi người xúm nhau gọi chúng tôi là Thánh và đua nhau đến thăm viếng, mà chúng tôi không thể ngăn cản nổi bất cứ một ai. Xin ngài chớ có trách mắng chúng tôi!

Viên giám mục tỏ vẻ bằng lòng, phán:

– Thế thì các ngươi theo giáo hội nào và tu hành như thế nào? Cầu nguyện và sống khổ hạnh như thế nào? Đến nỗi các ngươi gây ra nhiều tiếng tăm như vậy?

Cả ba người dân quê kinh ngạc:

– Thưa ngài giám mục chí tôn chí kính, thú thật, chúng tôi chẳng có tôn giáo nào hết. Chúng tôi chỉ lao động siêng năng hàng ngày, và bằng lòng với tất cả những gì mà Thượng đế mang lại cho bản thânchúng tôi và chúng tôi hoàn toàn không có bất kỳ ham muốn nào. Trong cùng tận đáy tâm hồn, chúng tôikhông có một tí ti tham vọng nào tồn tại cả. Đối với chúng tôi, cuộc sống chỉ là niềm phúc lạc vô biênmênh mông, và chúng tôi vui vẻ tận hưởng với lòng tri ân tất cả.

Giám mục gật gù:

– Cũng được. Nhưng các ngươi thường xuyên cầu nguyện ai và thực hiện buổi lễ cầu nguyện theo giáo phái nào? Và lời cầu nguyện như thế nào?

Ba người dân quê lúng túng nhìn nhau. Xấu hổ. Họ không biết ăn nói ra làm sao trước lời chất vấn của giám mục. Cuối cùng họ bẽn lẽn, thưa:

– Chúng tôi không biết tới nghi thức cầu nguyện của Nhà Thờ, và cũng chưa bao giờ thực hành theo nghi thức của bất kỳ giáo phái nào cả. Chúng tôi không thuộc về bất cứ tôn giáo nào, nhưng chúng tôicũng thường xuyên thực hiện những lời cầu nguyện theo kiểu tự nhiên của chúng tôi…

– Các ngươi cầu nguyện như thế nào, cứ thử trình bày cho ta xem sao?

– Vâng, thưa ngài. Chúng tôi cầu nguyện như thế này: “Cứ nghĩ rằng, các ngài là ba: Cha, Con và Thánh thần. Thế thì chúng tôi cũng là ba, xin hãy thương yêu chúng tôi. Cảm ơn! Cảm ơn!”. Nếu có lời cầu nguyện nào dài dòng hơn thế, thì chúng tôi không thuộc nổi!

Viên giám mục tức giận:

– Đây không phải là nghi thức cầu nguyện của Thiên Chúa giáo chúng ta. Các ông lại dám bịa ra những lời cầu nguyện ngu xuẩn và sai lầm như vậy sao? Tất cả các con chiên buộc phải thực hiện những nghi thức mà Nhà Thờ đã chấp nhận. Nếu các ngươi không biết, thì ta sẽ dạy cho các ngươi.

Ba người dân quê vô cùng mừng rỡ:

– Vâng. Xin hãy dạy cho chúng tôi những lời cầu nguyện chân thật, đúng đắn. Nhưng, ngăn ngắn mà thôi, bởi vì chúng tôi không được học hành chữ nghĩa chi nhiều, chúng tôi không thể nhớ những cái gì có vẻ dài dài…

Giám mục lắc đầu:

– Đây là nghi thức truyền thống, cố định của Nhà Thờ. Chỉ có nghi thức này là có thẩm quyền dẫn dắt chúng ta vào thiên đàng. Nghi thức này đã được thừa nhận công khai trong nhiều thế kỷ. Dẫu dài hay ngắn các ngươi cũng buộc phải ghi nhớ nằm lòng và tụng niệm luôn luôn. Nếu không, các ngươi không thể đi vào nước Chúa được.

– Nếu ngài khăng khăng quả quyết như vậy, thì chúng tôi phải vâng theo.

Giám mục trích đọc trọn nghi thức và cả lời cầu nguyện căn bản của Nhà Thờ.

Nghi thức cầu nguyện này khá dài, đến nỗi ba người dân quê này không thể ghi nhớ tức khắc nổi. Họ thưa:

– Xin ngài lập lại lần nữa. Chúng tôi là ba người, xin ngài lập lại ba lần. Xin hãy tốt bụng và xót thươngđể chúng tôi có thể ghi nhớ kịp.

Đương nhiên giám mục chấp thuận đề nghị ấy, và tuyên đọc ba lần. Họ im lặng, lắng nghe, và lẩm nhẩm theo. Giám mục vô cùng hả hê, sung sướng, nói:

– Các ông cũng là những người tốt. Hãy thuộc lòng và luôn luôn thực hiện nghi thức cầu nguyện này hàng ngày.

Ba người dân quê lại cúi hôn bàn chân của giám mục:

– Cầu Thượng đế phù hộ cho tất cả chúng ta!

Giám mục từ giã, vui vẻ bước xuống thuyền. Thuyền máy từ từ chạy hướng về phía đất liền.

Khi thuyền vừa ra tới biển, thì mọi người trông thấy dường như có một đám mây đuổi theo chiếc thuyền của giám mục. Không ai có thể hình dung được điều gì đang xảy ra: té ra ba người dân quê đang rượt theo bằng cách phi thân trên mặt nước. Họ lướt đi trên mặt nước cũng như chúng ta bước đi trên đất vậy. Một sự kiện hết sức kỳ lạ, khiến ai nấy kinh dị vô cùng.

Vừa chạy trên mặt nước, họ vừa nói lớn:

– Xin ngài hãy gượm một chút! Chúng tôi đã quên mất lời cầu nguyện của ngài rồi. Xin ngài từ bi dạy lại cho chúng tôi. Ít nhất là ba lần nữa. Bởi vì chúng tôi cũng là ba, xin hãy xót thương chúng tôi! Cảm ơn!

Giám mục trong thấy rõ ràng: ba người dân quê chắc hẳn là Ba Vị Thánh mới có thể đi trên mặt nước dễ dàng như vậy. Không còn nghi ngờ gì nữa. Giám mục nhủ thầm: “Về đi thôi! Ta không nên quấy rốinhững người thánh thiện như thế này. Hãy để cho những con người chất phác, bình dị này được tự dotự tại với tất cả ân sủng mà họ có được”.

Giám mục bảo thuyền dừng lại, chân thành nói:

– “Xin lỗi, vì ta đã can thiệp vô lối vào cuộc sống của các ông. Các ông cứ tiếp tục thực hành những lời cầu nguyện tự nhiên của mình.

“Thượng đế đã nghe thấy các ông mà không cần thông qua bất cứ nghi thức nào.

“Lời cầu nguyện của ta thì vẫn chưa được Thượng đế nghe thấy, bởi vì quá bài bản và quá lý trí. Lời cầu nguyện của ta chỉ là cách tiếp cận trí năng tới một Thượng đế giả thuyết và giả định.

“Còn lời cầu nguyện của các ông đã thực hiện từ chính trái tim các ông. Qua lời cầu nguyện, các ông không hỏi xin bất kỳ điều gì từ nơi Thượng đế, mà chỉ thuần túy là những lời cảm ơn với tất cả phúc lạcbao la hiện đang ngập tràn trong cuộc sống hàng ngày. Tất cả phúc lạc ấy đã làm thỏa mãn bản thân mọi người mà không cần thêm thắt bất kỳ tham vọng nào.

“Ta vô cùng ân hận vì đã bỏ lỡ cả đời trong việc tich lũy kiến thức, kinh điển thiêng liêng, nghi lễ rắc rối… nhưng vẫn chưa hề tiếp cận Thượng đế được. Còn những lời cầu nguyện đơn giản của các ông đã được Đấng Thiêng Liêng nghe thấy, và chứng thành.” (Leson Tolstoi, bản dịch của Huỳnh Hội, Làng Dừa, Thừa Thiên)

* * *

Vâng. Lời cầu nguyện đơn giản nhất và có thẩm quyền nhất, đó là: “Cảm ơn! cảm ơn!”. Và đương nhiên lời cầu nguyện này luôn luôn tạo ra muôn ngàn phép lạ trong cuộc sống hàng ngày và nếu chúng ta tỉnh thức một chút thì sẽ cảm nhận được ngay.

Xá Lợi Có Tác Dụng Gì – Bí Mật Cách Phân Biệt Xá Lợi Thật Giả

0

Khái niệm xá lợi là gì ?

Xá lợi (Sarira, Dhatu) là một bộ phận hay một phấn thân thể của Đức Phật, sau khi niết bàn, kim thân Phật được đem trà tỳ (thiêu hóa) và tồn tại những tinh hoa cao quý, như là xương, tủy. Với Phật giáo những phần thân thể của Phật, như tóc, móng, răng của Phật khi sanh tiền vẫn được tôn thờ. Thời hoàng kim của Phật giáo trên đất Ấn, chư vị Thanh văn A la hán, các bậc Tôn giả, chư Trưởng lão đệ tử Đức Phật tịch diệt đem thiêu hóa có xá lợi. Thời trung cổ và cận đại chư vị Tổ sư các bộ phái, môn phong pháp phái, chư Tôn túc Trưởng lão, chư Tăng Ni viên tịch đem thiêu hóa có xá lợi tất cà đều được tôn trí thờ phương trang nghiêm.

Sự tín ngưỡng xá lợi Phật không những chỉ ở các nước Phật giáo Á Châu, mà còn lan rộng đến, các chùa của Việt Nam, Trung Hoa, Nhật Bản ở các nước Âu Mỹ cũng đều bày trí tôn thờ. Trong quyển du lịch xứ Phật của tác giả Đoàn Trung Còn, xuất bản năm 1960 có bài nói về một cuộc lễ rước xá lợi Phật thật quy mô hoành tráng, có cả 10.000 người tham gia lễ rước xá lợi Phật từ chùa này sang chùa khác tại thủ đô Rangoon – Miến Điện

Bí Mật Của Xá Lợi


Một sự thật được tìm ra là tại sao đa số những người tu niệm Phật và đa số các vị cao Tăng khi chết để lại Xá lợi.

Thật ra ai cũng có thể có Xá lợi. Đó là phần tinh túy của thể xác hửu cơ sau khi được thiêu đốt ở nhiệt độ cao.

– Khi một người thường xuyên sống trong sự nhất tâm hay bớt đi vọng tưởng thì cơ thể họ sẽ tạo ra một dung dịch gọi là tủy sống tồn trử trong cơ thể người đó luôn luôn. Chính dung dịch nầy là chất xúc tác để phần xương tủy bị cháy kết tinh thành xá lợi dù chỉ được thiêu đốt dưới một nhiệt độ thấp đủ để thành tro.

– Riêng những người không tu tập gì hết nếu được nung đốt với một nhiệt độ cao nhất (có thể làm chảy nước phần vật chất) thì phần cơ thể của họ lập tức sẽ chảy ra thành nước và kết tinh thành những viên ngọc óng ánh rất đẹp.

Vì theo nguyên tắc khoa học. Tất cả vật chất dù rắn chắc cở nào nếu được đốt với nhiệt độ cao nó đều có khuynh hướng chảy thành nước. Cũng giống núi lữa đốt cháy đá thành nham thạch hay cảnh luyện kim khí thành đồ vật dụng thôi. Áp dụng nguyên tác nầy Chúng ta có thể biến cơ thể của bất cứ người chết nào thành ra những viên ngọc tuyệt đẹp với điều kiện chúng ta phải có một hệ thống máy móc đốt cơ thể với nhiệt độ cao nhất. Máy này đã có bán trên thị trường do Nhật sản xuất. Vậy từ nay nếu muốn được khỏi chôn cất thi hài người chết ta cứ việc cho vào máy để biến thi thể thành « Xá lợi ». Đây là việc làm ứng dụng nguyên tắc tự nhiên khoa học hoàn toàn không có xảo thuật hay hóa chất nào khác thêm vào. Chỉ có nhiệt độ cao và cơ thể con người. Đó là phần kỳ diệu nhất mà thiên nhiên dành cho chúng ta.

Máy thiêu người chết thành Xá lợi hay Ngọc Kim cương giá thành khoảng 250 ngàn USA. (135 ngàn bản Anh). Máy được chế tạo với hệ thống đốt cháy cơ thể và cho ra thành những viên ngọc cứng như đá và lóng lánh như Kim cương trong vòng 90 phút.

Làm sao phân biệt được Xá lợi Phật thật?

Vấn đề này, thú thật, chúng tôi cũng không thể trả lời một cách xác quyết dứt khoát rõ ràng. Vì chúng tôi cũng chỉ y cứ vào những dữ kiện, tài liệu chứng minh do các bậc Thầy truyền lại. Còn vấn đề tin hay không là quyền của mỗi người.

Trong quyển “Những Chuyện niệm Phật vãng sanh Lưu Xá Lợi” xuất bản năm 2000 tại Hoa Kỳ, do cư sĩ Tịnh Hải sưu tầm, có dẫn chứng ghi lại lời của Thượng tọa Như Điển nói về việc tôn thờ Xá Lợi Phật và chứng minh xác quyết đâu là Xá Lợi Phật thật. Chúng tôi xin được trích dẫn một vài đoạn nguyên văn ở trang 178 để chứng minh như sau:

“Theo Thượng tọa Như Điển, một phần lớn di chuyển về Thiên cung, một phần di chuyển về Long cung. Xá Lợi Phật có ba phần, một loại lớn bằng mút đũa, một loại bằng hạt gạo, một loại bằng hạt mè. Xá Lợi bằng mút đũa hiện không còn nữa. Xá Lợi bằng hạt gạo cũng không còn. Bây giờ duy nhứt còn Xá Lợi bằng hạt mè.

Xá Lợi có ba đặc tính. Hiện chùa Viên Giác có 8 viên Xá Lợi. Không phải ai cũng thấy được Xá Lợi. Có người phải đảnh lễ đủ ba ngàn lạy, trừ người có phước duyên từ trước. Muốn biết thế nào là viên Xá Lợi thật, phải làm bằng cách như thế này:

1. Đem hai bát nước để hai bên. Một bên để gạo, một bên để mè. Đầu tiên để gạo vào nước, thì gạo sẽ chìm, rồi lấy Xá Lợi để vào nước, Xá Lợi cũng chìm.

2. Lần thứ hai, lấy gạo ra và bỏ lại một nửa vào chén nước. Gạo vẫn chìm. Nhưng lần thứ hai lấy Xá Lợi ra và bỏ một lần nửa như gạo, nhưng lần nầy Xá Lợi không chìm.

3. Bây giờ lấy mè bỏ vào nước, ta sẽ thấy mè nổi trên nước như Xá Lợi. Nhưng nếu để Xá Lợi cách nhau khoảng 10 ly thì Xá Lợi tự động di chuyển. Điều nầy chứng tỏ pháp thân thanh tịnh Tỳ Lô Giá Na Phật vẫn còn tồn tại trong cõi này.

Cho nên người nào có phước, thờ Xá Lợi thì Xá Lợi sẽ lớn lên. Còn người nào vô phước mà thờ Xá Lợi thì Xá Lợi bay bổng đi nơi khác, mặc dù đang được cất giữ trong một cái tháp. Đó là sự linh thiêng của Xá Lợi, và cũng là đặc tính thứ nhứt.

Còn đặc tính thứ hai là Xá Lợi tự động di chuyển. Nội thấy đặc tính nầy thì quý vị cũng đủ đảnh lễ rồi. Không có một vật gì ở thế gian nầy khi đã chìm rồi lại nổi, không có một vật gì tự động di chuyển hết.

Đặc tính thứ ba là Xá Lợi có năm màu. Đây là màu hào quang của Đức Phật. Đó cũng chính là màu lá cờ Phật giáo do một Đại Tá Mỹ tên là Henri Olscostt đề nghị. Ông này khi qua Tích Lan, thấy hào quang năm màu của Phật, mới đề nghị lấy năm màu đó làm màu cờ Phật giáo. Năm màu này là:

1. màu xanh (lá cây và nước biển) tượng trưng cho niềm tin là Tín.
2. Màu vàng tượng trưng cho Tinh tấn.
3. Màu đỏ tượng trưng cho sự nhớ nghĩ tức là Niệm.
4. Màu trắng tượng trưng cho Định.
5. Màu cam tượng trưng cho Trí tuệ.

Về việc Xá Lợi có thể di chuyển không, thì theo ông Tịnh Hải thuật lại lời của Thượng tọa Như Điển kể lại như sau:

“Tại rừng Câu Thi Na – nơi Đức Phật nhập Niết Bàn – có một ngôi chùa tên là Song Lâm. Trước đây do một Ni sư người Trung Hoa dựng lên, sau nầy Ni sư cúng lại cho Hội Phật Giáo Linh Sơn của Hòa Thượng Huyền Vi, do Sư cô Trí Thuận trụ trì chùa này. Chùa có ba viên ngọc Xá Lợi của đức Phật. sau đó Sư cô qua Mỹ, đến Houston, Texas, có mang theo một viên Xá Lợi cúng dường cho một chùa ở đây, cũng mang tên chùa Linh Sơn. Vị trụ trì bận việc nên đem viên Xá Lợi bỏ vào một tủ khóa lại; nhưng sau đó mở khóa ra xem lại thì viên Xá Lợi biến mất, tìm mãi không ra.

Ba tháng sau, Sư cô Trí Thuận từ nước ngoài trở về Ấn Độ thì thấy viên Xá Lợi kia đã nằm sẵn trong tháp.

Tóm lại, Xá Lợi rất quý, nhưng nếu không biết cách gìn giữ thì Xá Lợi sẽ tự động giã từ mà trở về chốn cũ”.

Còn hỏi Có mấy loại Xá Lợi? theo Phật Học Từ Điển của ông Đoàn Trung Còn, ông có nêu ra Xá Lợi của Phật gồm có 2 loại chính:

1. Toàn thân Xá Lợi: Như Phật Đa Bảo đã tịch, nhưng Xá Lợi của Ngài là toàn thân thể vẫn ngồi trong bảo tháp.
2. Toái thân Xá Lợi (Xá Lợi nát ra): như Xá Lợi Phật Thích Ca hiện thờ trong các chùa tháp.

Phật Nhập Niết Bàn Là Gì – 3 Yếu Tố Phải Biết

0

Theo Kinh-điển Hán-văn, hôm nay rằm tháng 2 âm-lịch là ngày Phật nhập Niết-bàn. Vậy Phật nhập niết bàn là gì ?

Cùng một việc dứt thở, bỏ xác, tại sao ở người thế-gian, gọi là chết, còn ở Phật lại gọi là “nhập Niết-bàn”? Vậy sự sai khác giữa đôi đàng như thế nào và Niết bàn có nghĩa là gì? Đó là hai điểm mà tôi xin đề-nghị cùng chư quý đạo-hữu tìm hiểu, xuyên qua các sách vở đã được viết ra rất nhiều về vấn-đề này.

Khái Niệm

Trước tiên, chúng ta hãy nghe Kinh Bại-bát Niết-bàn nói về giờ phút trước khi và trong khi Phật nhập Niết-bàn.

Như Lai liền nói bài kệ:

Các hành vô-thường
Là pháp sinh-diệt.
Diệt sinh-diệt rồi,
Tịch-diệt là vui”.

Đại ý bài kệ nói rằng sự-vật không thường còn, vì đó là những thứ hễ có sinh ra là phải có diệt đi, nghĩa là có sinh là có tử, có đầu là có đuôi, có khởi đoan là có chấm dứt. Nếu diệt được cái “sinh diệt” ấy tức là nếu chấm dứt được sự “sinh tử”, thì được cái vui gọi là “tịch-diệt”. Sinh-tử đây là sinh-tử của thân, là vật sinh-diệt. Vì vậy Như-Lai nói tiếp:

“Các vị nên biết, hết thảy mọi hành-tướng đều là vô-thường. Thân tôi nay, tuy là thể kim-cương, vẫn không khỏi lẽ vô-thường biến thiên. Trong nẻo sinh-tử rất đáng sợ-hãi, các vị nên siêng làm hạnh tinh-tấn, cầu mau ra khỏi hố lữa sinh-tử này, đó là lời dạy cuối cùng của tôi. Thời nhập Niết-bàn của tôi đã đến”.

PHẨM PHÓ-CHÚC

“Ngay khi ấy Như-Lai vào Sơ-thiền; ra Sơ-thiền, vào Nhị-thiền; ra Nhị-thiền, vào Tam-thiền; ra Tam-thiền vào Tứ-thiền; ra Tứ-thiền vào Không-xứ; ra Không-xứ, vào Thức-xứ; ra Thức-xứ, vào Vô-sở-hữu-xứ; ra Vô-sở-hữu-xứ, vào Phi-tưởng phi-phi-tưởng-xứ; ra Phi-tưởng phi-phi-tưởng-xứ vào Diệt-tận-định.

Lúc đó, A-Nan thấy Như-Lai im bặt không nói, thân thể, chi-tiết không dao-động, liền sa lệ nói rằng: “Thế-Tôn nay đã nhập Niết-bàn rồi!”.

“Bấy giờ A-nâu-lâu-đà (Anurudha) bảo A-Nan: “Ngay bây-giờ Như-Lai chưa nhập Niết-bàn đâu! Sở-dĩ Ngài im-bặt, thân không dao-động, chính vì Ngài nhập Diệt-tận-định.

Đức Thế-Tôn ra Diệt-tận-định, lại trở vào Phi-tưởng phi-phi-tưởng-xứ, và lần-lượt cho đến vào Sơ-thiền; ra Nhị-thiền, vào Tam-thiền; ra Tam-thiền, vào Tứ-thiền. Và, ngay ở nơi ấy, Ngài nhập Niết-bàn”

PHẨM NHẬP NIẾT-BÀN

Hai đoạn kinh trên đã chỉ cho chúng ta thấy Phật không có “chết” cái chết của phàm-phu, mà Ngài đã “nhập định”. Không phải một nhập-định hữu hạn mà vô cùng vĩnh-viễn, vì Ngài đã tận “diệt phiền-não, sinh-tử, đã lìa mọi tướng, vào chỗ vắng-lặng vô cùng vô tận”. Đây là nghĩa đại-khái của danh-từ “nhập Niết-bàn”.

Bây giờ chúng ta hãy đi sâu vào vấn-đề để hiểu rõ thêm hơn.

Điểm cần ghi nhớ là đừng nghe nói Phật “nhập Niết-bàn”, rồi tưởng Phật đã về một cõi nào đó, hưởng phước đời đời, như Thiên-đường của nhiều Tôn-giáo khác. Cũng đừng hiểu rằng Phật đã tiêu-tan trong Hư-vô (Néant), khi đọc kinh-điển thấy nói Phật “tịch-diệt” hay “viên-tịch”. Vậy “nhập Niết-bàn” là đi vào đâu?

Niết-bàn là phiên-âm chữ Nirvâna của Ấn-Độ, Tàu dịch nghĩa là Diệt, Người Pháp dịch là Extinction với cái nghĩa: Thổi trên ngọn đèn để tắt. Diệt ngọn lửa mà một hơi thở làm mất tích, đó gọi là Niết-bàn.

Nhưng ngọn lửa mà một hơi thở, hơi thở của chúng ta, làm tắt, ngọn lửa đó là gì?

Một ẩn-sĩ Bà-la-môn hỏi Ngài Xá-lợi-Phất (Sariputra), một đại-đệ-tử của Phật:

– Niết-bàn, Niết-bàn, này ông bạn Xá-lợi-Phất, đó là gì?

– Sự tiêu-diệt lòng tham-muốn, sự tiêu-diệt lòng nóng giận hận thù, sự tiêu-diệt lòng si-mê sai-lạc, đó thưa ông bạn, là cái mà người ta gọi là Niết-bàn. ( SAMYUTTA NIKAYA )

Vậy Niết-bàn chỉ lả một danh-từ chỉ cái kết quả cứu cánh của sự tu-hành theo Phật-giáo mà mục-đích cứu-cánh là diệt tam-độc: tham, sân, si.

Để rõ hơn, chúng ta hãy tiếp nghe lời Phật dạy:

“Người tu nào đã từ bỏ được thú vui và tham-muốn, đã đầy đủ trí-huệ, là ngay ở cõi đời đây, đã đạt đến sự giải-thoát sinh-tử, sự tịch-tĩnh, đã đạt đến Niết-bàn, nơi an dưỡng thường-tồn, vĩnh-cửu.

Kẻ nào đã ra khỏi những con đường mòn gạt-gẫm của Luân-hồi, kẻ nào đã lội qua bên kia sông và đã tới bờ, giữ tâm chánh-định, không quá thất, không nghi hoặc, kẻ nào đã giải-thoát mọi sự-vật thế-gian và đạt đến Niết-bàn, kẻ ấy là một tu-sĩ chân-thực”. SUTTASANGAHA

Niết-bàn là nơi an-dưỡng thường-tồn, vĩnh-cửu! Vậy sao bảo Niết-bàn không phải là một cõi? Xin thưa, những chữ “nơi an-dưỡng” dùng ở đây là một lối nói “tạm” để ám-chỉ cái “thường”, đối lại với cái “vô-thường” là cảnh thế-gian. Do đây trong kinh Dvyatânupassanâ, Phật dạy:

“Cái không tiêu không diệt là Niết-bàn, hạng người cao-cả quan-niệm nó như thật có; nhờ thấu-triệt được sự thật này, họ được giải-thoát khỏi mọi thèm khát tham muốn và được hoàn-toàn an-lạc”.

Vậy Niết-bàn chỉ cái “Thường”, mà còn chỉ cái “An-lạc” của những tâm-hồn giải-thoát. Có giải-thoát, có diệt dục, mới có Niết-bàn:

“Trong kẻ từ-bi bố-thí, cây đạo-đức sẽ mọc lên.

Trong kẻ tự chế-ngự được, không một cơn giận hờn nào có thể nổi lên.

Người chân-chính gạt bỏ mọi điều ác.

Bởi sự tận diệt tham, sân, si, ngươi sẽ đạt đến Niết-bàn”.

MAHÂ-PARINIBBANA SUTTA

Thế thì Niết-bàn phải là một tâm-trạng không? Cũng không. Vấn-đề thật là rắc-rối và khó hiểu. Chính Phật cũng đã nhìn nhận như thế trong Kinh Udâna như sau:

“Này các đệ-tử, có một quốc-độ mà ở đấy không có đất, không có nước, không có nóng, không có gió(1); không có không-gian vô tận, không có thức vô biên, cũng không phải hoàn-toàn không có gì cả, cũng không có sự cảm-thọ hay không cảm-thọ, cũng không có thế-giới này, thế-giới kia, mà vừa là mặt trời, vừa là mặt trăng.

Cái ấy, này các đệ-tử, ta không gọi là khứ, là lai, là trụ, là sinh, là tử, nó không nhân, không thành, không diệt. Đó là chỗ chấm dứt của sự khổ.

Khó mà thực-nghiệm được cái “thể”; chân-lý không phải dễ nhiếp-thọ, nắm lấy; kẻ biết thật biết mới làm chủ được lòng ham-muốn và kẻ nào thấy thật thấy mới thấy vạn-vật không có một giá-trị chân-thật nào cả”.

Từ trước đến đây, chúng ta thấy Niết-bàn không phải một cõi, một cảnh, một tâm-trạng, cũng không phải là cái không ngơ (hư-vô). Vậy Niết-bàn có hay không có? .

Trong Kinh Na-Tiên Tỳ-kheo, vua Milinda đã đặt ra câu hỏi ấy. Vả đây là câu trả lời của Ngài Na-Tiên:

“– Tâu Hoàng-thượng, có Niết-bàn, và cái có ấy, có thể lấy trí mà nhận. Còn hễ là đệ-tử Phật mà giữ được tâm thanh tịnh và chánh-trực, thoát khỏi các nghiệp – chướng, thoát khỏi được các tham muốn thấp hèn, thì thấy được Niết-bàn.

– Xin thí-dụ, nhà Vua nói.

– Hoàng-thượng biết có một cái gọi là gió. Vậy xin Hoàng-thượng chỉ cho tôi coi gió màu sắc gì, hình dáng ra sao, nó dày hay mỏng, dài hay vắn?

– Không thể chỉ được như thế, vì làm sao nắm bắt nó được, nhưng dầu vậy, gió là cái gì có.

– Cũng thế, tâu Hoàng-thượng, Niết-bàn là cái gì có mà không thể chỉ cho thiên-hạ thấy hình sắc của nó.

Cái lý Niết-bàn, đầy an-lạc, rất nhiệm-mầu, có. Và người nào ở ăn chân-chánh, thấu hiểu tánh của các tướng, tuân hành giáo-pháp của chư Phật, người ấy ắt thực chứng Niết-bàn, cũng như một đứa trẻ học nghề, nhờ thầy chỉ dẫn, mà rồi tự tạo, tự biến thành một thợ giỏi trong nghề.

– Làm sao biết được Niết-bàn, nhà Vua hỏi.

– Nhờ sự thoát khỏi phiền-não, nghiệp-chướng, nhờ sự an-ổn, an-lạc thanh-tịnh”.

Rồi Ngài Na-Tiên cho thêm vài thí-dụ. .

– Người té vào đống lửa ngùn-ngụt, cố gắng vượt ra khỏi và lên được chỗ mát-mẻ. Người ấy cảm thấy sung-sướng vô cùng. Cũng thế, người thoát khỏi lửa của tham, sân, si sẽ hưởng cái sung-sướng Niết-bàn.

– Người té vào huyệt tử-thi hôi-thối, nếu cố-gắng ra khỏi được và lên chỗ không có tử-thi, sẽ cảm thấy sung sướng vô ngằn. Cũng thế, ai ra khỏi hầm tử-thi của những tâm-niệm bất thiện, người ấy sẽ hưởng cái sung-sướng Niết-bàn.

– Người té vào hầm phẩn dơ mà cố-gắng ra khỏi và lên chỗ sạch, sẽ cảm thấy sung-sướng. Ai thoát khỏi cái lo sợ của sanh, già, bệnh, chết, người ấy sẽ hưởng cái sung-sướng Niết-bàn.

Vậy tìm Niết-bàn ở đâu?

“Ở trong đạo-đức. Nếu sống luôn trong đạo-đức, trong định-tâm, thì dầu ở đông ở tây, ở nam ở bắc, ở dưới Long-cung hay ở trên Thiên-cung, bất luận chỗ nào, người sống trong chánh-chân như thế tìm được Niết-bàn”.

Cứ như trên thì Niết-bàn là cái gì mà ngay đây mỗi chúng ta có thể đạt được, miễn thực hiện những điều kiện Phật dạy? Vâng, quả đúng như thế. Về điểm này, Bà Alexandra Daviđ, trong sách “Le Modernisme Boudhiste et le Bouddhisme du Bouddha” có viết :

“Niết-bàn là mục-đích, là hải-cảng trú-ẩn, là sự an nghỉ miên viễn. Hải-cảng ấy, bậc A-la-hán đã đạt đến rồi; ngay lúc còn sống, La-hán đã vượt khỏi ngưỡngcửa cái thế giới bên kia, rất cách biệt với những tri kiến và quan-niệm của chúng ta, và tuy chúng ta thấy Ngài cũng vẫn còn đi, đứng, nằm, ngồi y như chúng ta và giữa đám chúng ta , La-hán không còn là người của thế-giới chúng ta, là thế-giới của vọng-tưởng và vô-thường. Ngài sống trong Bất-biến, trong Bất-sinh, trong Chân-thường. Ngài là cái Bất-biến, Bất-sinh, Chân-thường”.

Tu-hành mà đạt đến kết-quả này gọi là “đắc Niết-bàn tại thế” hay “đắc hữu dư Niết-bàn” hay nữa “đắc hữu dư-y Niết-bàn”.

Kinh Bảo-Quật nói :

“Kim-cang tâm đoạn biến-dịch nhân tận, nhi biến-dịch quả du-tồn, hữu dư lụy, cố viết hữu dư”.

Cái nhân biến-dịch đã bị tâm Kim-cang (trí huệ) chặt đứt, nhưng cái quả biến dịch vẫn còn, nên còn phải chịu một phần nợ-nần, bó buộc nào, vì vậy nên gọi là còn dư, chưa đứt. Nói một cách khác, hữu-dư Niết-bàn là kết-quả giải-thoát nội tâm hoàn-toàn, nhưng về mặt thân xác thì sự giải-thoát chưa được hoàn-toàn hẳn, vì còn thân là còn nợ-nần với cái sống ăn, sống mặc, với già, với bệnh, với chết.

Cao hơn “Hữu-dư Niết bàn” có “Vô-dư Niết-bàn” hay “Vô-dư-y Niết-bàn”, là “Vô sanh-tử chi nhân, diệc vô quả dã”. Đó là kết-quả mà Phật đã đạt đến vào một đêm rằm tháng hai, cách nay trên 2500 năm. Cái nhân sanh-tử trong tâm đã chết mất từ lâu, rồi nay cái quả sanh-tử của nhân tiền kiếp (thân) cũng bỏ lại và sẽ tan-rã, thì còn nợ-nần chỗ nào mà khòng bảo là “Vô-dư”. Tóm lại, “Vô-dư Niết-bàn” là Niết-bàn đạt đến khi bỏ xác, là Giải-thoát hoàn-toàn.

Nhưng dầu hoàn-toàn (Vô-dư) hay chưa hoàn-toàn (Hữu-dư), Niết-bàn chỉ có một thể, cũng như đường chỉ có một vị là ngọt, dầu đó là đường tán hay đường phèn. Để chỉ cái vị duy nhất ấy kinh-điển bảo Niết-bàn có bốn đức (hay bốn đặc-điểm: propriétés essentielles) là: Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. Nói cho đúng, chính 4 cái đó là Niết-bàn và ai thực chứng được, ai thưởng thức được thì gọi là “đắc Niết-bàn”.

Bốn đức này , chúng ta đã nghe thấy trong những đoạn kinh đã dẫn ở phía trước.

Sống trong, vì và bởi cảnh thế-gian là sống trong biến-dịch, vô-thường, cảnh-giới của vật-chất và tình-cảm thấp-thỏi. Bỏ được lối sống này mà sống được đời sống nội tâm không biến-dịch, là sống trong cái ngược với vô-thường, tức là sống trong cái Thường (Eternel). Sống trong Thường là bất biến, nhưng không phải không tùy duyên. Tùy duyên mà vẫn bất biến. Thí-dụ: đến giờ phải ăn là ăn (tùy duyên), nhưng không để cái ăn làm xao-động lòng mình (bất biến). Trước cảnh đau-khổ của người khác, lòng không bị kích-thích như thế tình (bất biến), nhưng hết sức giúp-đỡ (tùy duyên). Được như thế gọi là Thường.

Tâm không bồn-chồn, lo muốn nóng-nảy, gọi là an. Có an là có vui (Lạc), cái vui khác thường, vì không cần có mồi mới sanh vui. Người muốn tiền mà không được tiền, không vui, như cá muốn ăn mà không gặp mồi, không sướng. Vậy cái vui sướng của thế-nhân là cái vui sướng cảm thấy khi lòng ham muốn , thèm khát, được thỏa-mãn. Cái Lạc của người giải-thoát là cái vui hồn-nhiên, phát xuất từ chỗ không tham, không cầu gì cả. Đó là cái mội nước tự nó phun lên, mà không cần có máy bơm. Vậy là một cái vui bất chấp ngoại cảnh, hoàn toàn giải-thoát mọi kích-thích, cái vui “bí-mật” mỉm cười của Phật. Được như thế gọi là Lạc.

Thế-nhân ai là người không sống cho ta và vì ta, cho và vì cái ta nhỏ mọn (tiểu-ngã)? Đó là lối sống ích-kỷ. Bỏ lối sóng đó mà sống vì người, vì tất cả, là sống cho cái Ta to (Đại-ngã). Gọi Đại-ngã vì là toàn thể những cái “ta” nhỏ góp lại. Vậy sống vị-tha là sống cho Đại-ngã, hay Ngã, sống như cái sống của nước đại-dương. không sống chật hẹp của nước biển đựng trong chai. Được như thế gọi là Ngã.

Sống theo thế-tình, thế-tục, là sống trong ô-nhiễm. Càng đi xa trên con đường ấy là càng lún chân trên bãi lầy của phiền-não, nghiệp-chướng do tham, sân, si, tài, sắc, danh, lợi, thực, thùy tạo ra. Bỏ lối sống ấy mà sống một lối sống hoàn-toàn trong sạch, lòng không dính một bụi nhơ thế-sự, được như vậy gọi là Tịnh.

Tất cả những cái Lạc, Ngã, Tịnh vừa nói đều do chỗ “tùy duyên bất biến, bất biến mà tùy duyên” mà có.

Ai thực-hiện được tất cả bốn đức ấy thì được gọi là “đắc hay nhập Niết-Bàn”.

Để kết-luận, xin lập lại rằng Niết-bàn chỉ là một danh-từ dùng để chỉ một cái gì mà ngũ quan không nhận được, ý-thức không tưởng-tượng được nhưng có và có một cách chân-thật đối với ai đã thực-chứng, thực-nghiệm được nó. Nhưng xin đừng hiểu là muốn có Niết-bàn phải đi tìm nó. Càng tìm nó, nó lại càng xa, vì có tìm là tâm còn tham mnốn, mà còn tham muốn là trái với Tịnh, với Lạc, với Ngã. Cũng đừng tưởng tới nó, vì có tưởng là tại có muốn, mà như thế thì cũng sai rồi.

Cứ ăn ở, cứ sống như Phật dạy, trong Thường, Lạc, Ngã, Tịnh, rồi Niết-bàn tự-nhiên sẽ đến và chừng ấy chúng ta sẽ biết Niết-bàn là gì. Đừng tưởng đọc sách rồi biết Ba-lê. Phải đến Ba-lê mới biết Ba-lê là gì. Cũng đừng nghe người nói nước mát rồi tưỏng là đã biết cái mát của nưởc. Muốn biết rõ, hãy uống nước. Ngoài ra là ức tưởng, là lấy bóng làm hình.

Cũng đừng tưởng Niết-bàn rất xa chúng ta. Không. Niết-bàn rất gần chúng ta, chúng ta cọ vai sát cánh với nó hàng phút. Nhưng chúng ta chưa bắt tay với nó được, chỉ vì chúng ta chưa bước qua khỏi làn ranh phân cách cái giả với cái chân, vì chúng ta chưa thoát khỏi chứng mù mắt đang căng một tấm màng đen dày chặt giữa cái sống rộng bao-la và cái thấy bó rọ trong ranh giới của cái hình dáng và tên-tuổi (danh sắc) mà mỗi giờ phút làm biến đổi và chúng ta lầm tưởng là “Ta”./.

Chú thích: (1) Tứ đại: đất, nước, gió, lửa, bốn yếu-tố vật-chất.

Hòa Thượng – Thượng Tọa – Đại Đức – Các Chức Danh Cấp Bậc Trong Phật Giáo

0

Ngày xưa khi Phật thị hiện tại thế gian, các tỳ kheo thường dùng tiếng Đại Đức, bậc thầy đáng tôn kính, phước huệ toàn mãn, để xưng hô với Ngài mỗi khi có việc cần thưa thỉnh. Các vị đệ tử lớn của Phật cũng được gọi là Đại Đức như Đại Đức Mục Kiền Liên, Đại Đức A Nan v..v..

Khi đạo Phật được truyền sang Trung Hoa và Việt Nam việc xưng hô với các vị Tỳ kheo xuất gia có phần phức tạp hơn. Ngoài từ Đại Đức, còn có thêm từ Thượng Tọa và Hòa Thượng. Ngày nay xuất hiện thêm danh xưng Lão Hòa Thượng và Đại Lão Hòa Thượng.

Các Danh Xưng – Cấp Bậc

Thượng Tọa

Là người xuất gia tu hành lớn tuổi có tác phong đạo đức đáng được mọi người trong và ngoài đạo Phật kính trọng. Theo Tứ Phần Luật, Tỳ kheo được phân chia làm 4 cấp theo tuổi hạ được tính, cứ mỗi năm ba tháng âm lịch từ ngày trăng tròn tháng 4 đến ngày trăng tròn tháng 7, cùng nhau tu tập tại một nơi nào đó để an tâm tu học, tinh chuyên giữ giới, sau ba tháng ấy, được kể là một hạ. Hạ Tọa (0 đến 9 hạ), Trung Tọa (10 đến 19 hạ), Thượng Tọa (20 đến 49 hạ) và Trưởng Lão (50 hạ trở lên).

– Thượng tọa: có nguồn gốc Phạn ngữ: sthavira, Pàli: thera; là cách tôn xưng một vị Tăng cao tuổi đã đạt bốn tiêu chuẩn sau: 1) Đức hạnh cao; 2) Nắm vững tất cả giáo lý căn bản của đạo Phật; 3) Nắm vững các phương pháp thiền định; 4) Người đã diệt ô nhiễm, phiền não và đạt giải thoát.

Danh hiệu Thượng tọa được dùng sau này không hẳn là theo tất cả các tiêu chuẩn trên, thường chỉ để dùng cho các Tỷ kheo có danh tiếng, cao tuổi hạ.

Tại nước ta, phẩm vị “Thượng tọa” được xem là giáo phẩm sau “Hòa thượng”, điều kiện để GHPGVN tấn phong cũng được quy định trong Hiến chương của Giáo hội (Tăng sĩ từ 45 tuổi đời và 25 tuổi đạo trở lên, có công đức với đạo pháp và dân tộc…).

Hòa Thượng

Tiếng Phạn là Upadhayaya, dịch nghĩa là sanh lực, tức là vị tu hành lâu năm có đời sống phẩm hạnh thanh tịnh và do đó khiến cho đạo lực của đệ tử được phát sinh. Theo Tứ Phần Luật, Hòa Thượng là nhà sư đỡ đầu cho Sa Di và Tỳ Kheo. Theo kinh Phạm Võng, Hòa Thượng là một trong hai vị sư truyền giới trong hội đồng truyền giới Tỳ kheo Bồ Tát: Hòa Thượng (thầy đỡ đầu) và A Xà Lê (thầy giáo thọ). Ở Việt nam xưa kia, Hòa Thượng được dùng để gọi một vị sư trụ trì một ngôi chùa hoặc là do sự kính trọng những vị tu hành có tuổi cao, có cốt cách đạo hạnh.

Tại Việt Nam ngày nay, “Hòa thượng” được xem là phẩm vị giáo phẩm cao nhất trong tổ chức Tăng già của GHPGVN, điều kiện tấn phong được quy định trong Hiến chương của Giáo hội (đang ở giáo phẩm Thượng tọa, trên 60 tuổi đời và 40 tuổi đạo, có đạo hạnh, có công đức với đạo pháp và dân tộc…).

Đại Hòa Thượng

Danh hiệu “Đại Hòa thượng” cũng thường được sử dụng trong Thiền tông để chỉ những vị Thiền sư. Theo những nghi thức tụng niệm trong một Thiền viện tại Nhật Bản, thiền sinh phải tưởng niệm đến hệ thống truyền thừa từ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đến vị Lão sư (roshi) đang trụ trì và tụng danh hiệu của chư vị. Tên của chư vị thường được thêm danh hiệu (Đại Hòa thượng) phía sau để tăng thêm vẻ uy nghiêm.

Đại Đức

– Đại đức: là tôn hiệu chỉ cho những vị Tăng có đạo hạnh và trí tuệ. Ở nước ta ngày nay, Đại đức chỉ cho những vị Tăng đã thọ giới Tỳ kheo.

Lịch Sử Danh Xưng Ở Việt Nam

Ở Việt Nam, trước năm 1963, danh xưng thường gọi những người mới xuất gia, nếu nhỏ tuổi ở miền Bắc gọi là Chú Tiểu, miền Trung gọi là Chú Điệu, miền Nam gọi là Ông Đạo. Những vị đã thọ Tỳ Kheo Giới từ 20 tuổi đến 60 tuổi đời đều gọi là Thầy và nếu trên 60 tuổi đời gọi là Sư Ông hay Sư Cụ ở miền Bắc và gọi là Ôn ở miền Trung. Ngược lại các vị được gọi thì tự xưng mình là “bần tăng” hay “bần ni” mà không tự xưng mình là Thầỵ Ở miền Bắc còn có danh từ “sư bác” để gọi những vị lớn tuổi mới xuất gia, đã thọ sa di thay vì gọi là Thầy.

Theo Hiến Chương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (trước năm 1975) qui định thì nhửng Tăng sĩ đã thọ giới Tỳ Kheo có tuổi đời từ 20 đến 40 tuổi là Đại Đức, từ 40 đến 60 tuổi đời là Thượng Tọa và từ 60 tuổi đời trở lên là Hòa Thượng. Hòa Thượng là các vị có 60 tuổi đời sắp lên, trong đó có 30 tuổi hạ, Thượng toạ là những vị có 50 tuổi đời, trong đó có 20 tuổi hạ. Hai chức vị Thượng Tọa và Hòa Thượng phải qua một tiến trình đề cử và suy tôn của một đại hội toàn quốc hay do giáo lệnh của Đức Tăng Thống phê chuẩn. Thông thường muốn được đề cử Thượng Tọa các vị Đại đức đã thọ Tỳ Kheo giới, theo thầy hoặc tăng chúng an cư kết hạ liên tục trong suốt 20 năm và muốn được đề cử chức vị Hòa thượng phải là người đã thọ Tỳ Kheo giới và có an cư kết hạ 30 năm trở lên. Những Tăng sĩ tuy đã thọ Tỳ Kheo Giới nhưng không sống theo tăng đoàn tu học mỗi năm 3 tháng vào mùa mưa, tức từ ngày trăng tròn tháng 4 âm lịch đến ngày trăng tròn tháng 7 âm lịch, nhằm tinh chuyên giới hạnh thì không đủ điều kiện và tư cách để thụ phong chức vị Thượng Tọa hay Hòa Thượng.

Theo Hiến Chương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (sau năm 1975):

(1) Được tấn phong Hoà thượng những Thượng toạ từ 60 tuổi đời, 40 tuổi đạo trở lên, có đạo hạnh, có công đức với Đạo pháp và dân tộc, do Ban Trị sự Tỉnh hội, Thành hội đề nghị lên Ban Thường trực Hội đồng Trị sự để xét duyệt, đệ trình Thường trực Hội đồng Chứng minh phê chuẩn, được Hội nghị Trung ương thông qua hay Đại hội Phật giáo toàn quốc tấn phong với một Nghị quyết và một giáo chỉ do Đức pháp chủ ban hành.(chương 3 điều 37)

(2) Được tấn phong Thượng toạ những Tăng sĩ từ 45 tuổi đời, 25 tuổi đạo trở lên có đạo hạnh, công đức với đạo pháp và dân tộc do Ban Trị sự Tỉnh hội, Thành hội đề nghị lên Ban Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội xét duyệt đệ trình Thường trực Hội đồng Chứng minh phê chuẩn và tấn phong tại Hội nghị Trung ương Giáo hội và Đại hội Phật giáo toàn quốc, với một Nghị quyết và một Giáo chỉ do Đức Pháp chủ ban hành.(chương 3 điều 38)

(3) Cấp bậc Giáo phẩm của Ni giáo là Ni trưởng và Ni sư. Tiêu chuẩn và điều kiện để tấn phong giáo phẩm của ni giới như quy định của hàng Tăng giới ở Điều 37 và 38.

Đối với người nữ xuất gia, sau khi lãnh thọ 10 giới sa di được gọi là Sa Di ni hay Ni cô. Những nữ tu sĩ Phật giáo khi đến tuổi 18, dù đã thọ giới sa di hay chưa cũng phải thọ giới thức Xoa ma Na trong hai năm trước khi được thọ giới tỳ kheo ni.

Ngoài ra, những người trước kia đã từng lập gia đình nay sống độc thân (vì thôi chồng hay chồng chết), nếu muốn thọ giới thức Xoa ma na phải đợi 10 năm sau ngày ly hôn hay ngày chồng chết mới được thọ giới Thức Xoa Ma Na. Khi đã được thọ giới Tỳ Kheo ni, nữ tu sĩ Phật Giáo được gọi là Tỳ Kheo ni hay là Sư cô. Theo tổ chức Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, chức vị Ni Sư ngang hàng với chức vị Thượng toạ, là những vị Sư cô trên 45 tuổi đời, đã thọ giới Tỳ kheo ni và có trên 25 tuổi đạo. Ngoài ra, còn có chức vị Ni Trưởng ngang hàng với chức vị Hoà thượng là các vị Ni sư có trên 60 tuổi đời và trên 40 tuổi đạo. Chúng tôi không thấy có danh xưng Hoà Thượng Ni trong tổ chức Phật Giáo Việt Nam trước năm 1975 cũng như sau năm 1975.

Các chức vị Thượng Tọa, Ni sư, Ni Trưởng và Hòa Thượng hiện nay tại Việt Nam phải qua một tiến trình đề cử của giáo hội địa phương và các ban ngành chuyên môn liên hệ và được giáo hội trung ương xét duyệt tấn phong.

Trong đạo Phật, việc xưng hô không mang tính cách chức vị quyền thế như các phẩm tước ngoài đời. Tăng đoàn xuất gia tỳ kheo tự tôn trọng và kính nể nhau về tuổi đạo chứ không phải tuổi đờị Người lớn tuổi hơn nhưng thọ Tỳ kheo sau người nhỏ tuổi cũng phải kính trọng vị nhỏ tuổi đời, xem như người đi trước, như bậc đàn anh trong đạo.

Khi giao tiếp với chư tăng ni, Phật tử tại gia, bao gồm cả thân nhân của chư tăng ni, thường đơn giản gọi bằng Thầy, hay Cô, và thường xưng là con (trong tinh thần Phật pháp, người thọ ít giới bổn tôn kính người thọ nhiều giới bổn hơn, chứ không phải tính theo tuổi tác người con theo nghĩa thế gian) để tỏ lòng khiêm cung. Cũng có thể xưng tên hay pháp danh của mình khi nói chuyện.

Riêng với những Phật tử tại gia cao tuổi có thể xưng tôi hay chúng tôi với những vị tăng ni trẻ hơn mình. Sau khi qui y Tam bảo và thọ 5 giới, mỗi vị cư sĩ Phật Tử tại gia có một vị Thầy (người đại diện Tam Bảo) truyền giới cho mình. Vị ấy được gọi là Thầy Bổn sư. Cả gia đình có thể cùng chung một vị Thầy Bổn sư, tất cả các thế hệ cùng gọi vị ấy bằng Thầy. Theo giáo phái khất sĩ, nam tu sĩ được gọi chung là Sư và nữ tu sĩ được gọi chung là Ni. Còn Nam tông chỉ có Sư, không có hay chưa có Ni.

Khi chư Tăng ni tiếp xúc với quí vị Phật tử tại gia, chư Tăng ni thường xưng là tôi hay chúng tôi, hay xưng pháp danh, pháp hiệu, hoặc bần tăng, bần ni; cũng có khi chư tăng ni xưng là Thầy, hay Cô, và gọi Phật tử là đạo hữu, hay quí đạo hữu, hay pháp danh, hay tên ngoài đời. Việc một vị tăng hay ni trẻ tuổi xưng Thầy hay Cô gọi một Phật tử tại gia nhiều tuổi bằng “con” thực là không thích đáng. Không nên gọi như vậy. Theo truyền thống đông phương, tuổi tác rất được kính trọng trong xã hội, dù tại gia hay xuất gia.

Đối với Phật tử tại gia, khi xưng hô với các vị xuất gia, chúng ta nên thận trọng, tuy giữ thái độ khiêm cung, nhưng không hạ mình và đừng tạo cho mình và người đối tượng một bức tường ngăn cách giữa hai tầng lớp: hàng tăng lữ xuất gia và hàng tín đồ tại gia. Việc một số Phật tử xưng hô với một vị Ni sư tại một ngôi chùa ni tại quận Cam là “Hòa Thượng Ni” có thể là do sự cung kính thái quá của họ đối với vị Ni sư đó nhưng cũng có thể do sự thiếu hiểu biết về các danh xưng trong đạo Phật.

Tại Đông và Nam Á, danh hiệu Hòa thượng là chức vị cao nhất mà một người tu hành có thể đạt được, cao hơn cả vị A xà lê. Muốn mang danh hiệu này, một vị Tăng phải đạt được những tiêu chuẩn đạo đức, thời gian tu tập (tuổi hạ)… và danh hiệu này được tấn phong trong một buổi lễ long trọng của Tăng già. Danh từ này sau cũng được dùng chỉ những vị Tăng cao tuổi, trụ trì một ngôi chùa và có đức hạnh, tư cách cao cả mặc dù chưa được chính thức phong hiệu.

Cách Trì Chú Dược Sư Vào Nước – Truyền Thuyết Và Sự Thật

0

Nguồn Gốc

Chữa bệnh bằng nước đã được chú nguyện Dược Sư là một việc làm thông thường ở Tây Tạng, nơi các Lama và các hành giả thiền định thường chữa bệnh bằng cách chú nguyện Dược Sư vào nước và cho bệnh nhân uống. Pháp thực hành này gồm có việc thiền định và trì tụng mật chú Quán Thế Âm, Phật Dược Sư, Tara, hay các vị Bổn tôn khác. Sau đó, nước đã chú nguyện Dược Sư sẽ được uống nhiều lần trong ngày. Việc này đặc biệt rất tốt cho trẻ con và người già, là những người thường không thể chú tâm hay thấy khó khăn trong việc quán tưởng và trì tụng mật chú. Đây có lẽ cũng là cách duy nhất để chữa bệnh cho những người mà bạn không thể gặp gỡ giao tiếp.

Bạn có thể chú nguyện Dược Sư vào nước và sử dụng để chữa bệnh cho chính mình hay người khác. Hãy nhớ lại câu chuyện về ông Lee ở Singapore. Ông ta đã khỏi bệnh ung thư dạ dày bằng cách trì tụng bài Hai mươi mốt lời xưng tán Đức Tara mỗi ngày và uống nước đã được chú nguyện Dược Sư.

Người ta thường trì tụng mật chú để tạo ra năng lực trong một chất liệu và rồi dùng chất ấy để chữa bệnh, đặc biệt là những bệnh về xương. Cũng có thể thiền định và trì tụng mật chú rồi chú nguyện Dược Sư vào bột hay kem, rồi thoa ngoài da. Các mật chú không chỉ có năng lực trong việc chữa bệnh cơ thể mà còn tịnh hóa tâm, và đây là điểm chính. Mật chú có năng lực tịnh hóa nhân của bệnh và tất cả các vấn đề khác nữa: các hành vi và suy nghĩ bất thiện, cũng như các chủng tử đã để lại trong tâm. Thật ra, việc uống nước đã chú nguyện Dược Sư chính là để chữa lành những căn bệnh nội tâm lâu đời này.

Cách Trì Chú

Để chú nguyện Dược Sư vào nước, bạn hãy đặt một lọ chứa nước lên bàn thờ hay trước mặt bạn. Hãy quán tưởng rằng, nhờ vào lòng bi mẫn của đấng giác ngộ mà bạn đã quán tưởng, những dòng sữa cam lồ từ tim hay bàn tay vị ấy chảy vào trong nước. Hãy trì tụng mật chú của vị bổn tôn đó càng nhiều càng tốt, rồi thổi vào nước. Khi bạn trì tụng càng nhiều mật chú, lời nói của bạn càng có nhiều năng lực, và hơi thở của bạn càng có nhiều sức chú nguyện Dược Sư nhiều hơn. Hơi thở của bạn sẽ có năng lực chữa bệnh nhờ vào năng lực của mật chú; năng lực chữa bệnh đến từ năng lực của tâm thiêng liêng của Đức Phật yêu thương bi mẫn đối với tất cả chúng sinh hữu tình. Mặc dù Chư Phật có vô lượng phẩm tính, nhưng các ngài dẫn dắt chúng ta chủ yếu là vì lòng bi mẫn.

Mỗi một nguyên tử nước đã được chú nguyện Dược Sư đều có năng lực chữa bệnh không thể nghĩ bàn, và không chỉ chữa lành bệnh tật cơ thể, vốn chỉ là một vấn đề, mà còn giải quyết được nhiều vấn đề bất ổn khác.

So Sánh Phật Giáo Đại Thừa Và Tiểu Thừa – 3 Điều Phải Biết

0

Vẻ Đẹp Phật Pháp xin gửi tới bạn đọc một bài viết mà khá nhiều bạn quan tâm, đó là làm thế nào để phân biệt được đâu là Phật giáo Đại Thừa đâu là Phật giáo Tiểu thừa. Đại thừa và tiểu thừa là hai khái niệm rất phổ biến trong Phật giáo mà có lẽ những ai quan tâm hay từng tiếp xúc với Đạo phật đều đã từng nghe qua. Về việc định nghĩa hai khái niệm này đã được rất nhiều tác giả, học giả thực hiện và có đăng trên nhiều website khác. Tuy vậy những định nghĩa đó nhiều phần thì quá cao siêu, nhiều phần thì mơ hồ lệch lạc đi xa với cái nghĩa thuần túy của nó. Trong bài viết này tôi xin được giải thích chúng theo lý giải đơn giản nhất mà ai cũng có thể hiểu được về Phật giáo Đại thừa và Phật giáo Tiểu thừa, Bắc tông và Nam tông… Giữa hai hệ phái cùng thờ Phật này có gì giống nhau và có gì khác biệt? Tôi cũng đã từng thắc mắc như thế nên đã thử tìm hiểu.

A- Nguồn gốc:

Muốn hiểu đôi chút về Phật giáo Đại thừa và Phật giáo Tiểu thừa, có lẽ phải tìm hiểu vài nét bắt đầu từ giai đoạn lịch sử hình thành Phật giáo. Đức Phật Thích Ca Nâu Ni (Sakyamuni Gautana) được sinh ra ở Ấn Độ, là người sáng lập ra Phật giáo, theo ghi chép của sử liệu Phật giáo Trung Hoa, Ngài đản sinh vào năm 565 trước Công nguyên, nhập diệt vào năm 486 trước Công nguyên, thọ 80 tuổi. Theo ghi chép, khoảng 100 năm sau khi đức Phật tịch diệt, từ Giáo đoàn nguyên thủy, do có cái nhìn khác nhau về nhiều mặt, giới luật, giáo nghĩa, phương pháp tư duy, tu hành… nội bộ của Phật giáo bắt đầu chia rẽ, hình thành hai phái bộ chính, là “Đại chúng bộ”, và “Thượng tọa bộ”.

 

Đến khoảng thế kỷ thứ I trước Công nguyên (có sách chép vào thế kỷ thứ I Công nguyên), Phật giáo Ấn Độ bắt đầu hình thành một số tư tưởng, học thuyết mới, và các giáo phái mới. Một hệ phái mới bắt nguồn từ Đại chúng bộ coi mục đích của họ là “Phổ độ chúng sinh”, dựa trên tính đa dạng của Giáo pháp. Phái này tự nhận là “Cỗ xe lớn” (Đại thừa, tiếng Sanscrit: Mahayana). Phái Đại thừa gọi phái bộ còn lại (Thượng tọa bộ) là “Cỗ xe nhỏ” (Tiểu thừa, S: Hinayana), trong khi Thượng tọa bộ tự coi họ là Phật giáo Nguyên thủy (S: Theravada). Cách gọi “Cỗ xe nhỏ” (Tiểu thừa) ban đầu có tính cách châm biếm và miệt thị, nên bản thân hệ phái Thượng tọa bộ (Phật giáo Nguyên thủy) không thừa nhận danh xưng Tiểu thừa. Tuy nhiên tên gọi PG Tiểu thừa dần trở thành phổ biến và được đại chúng quen gọi. Phật giáo Đại thừa và Phật giáo Tiểu thừa ra đời từ đó.

Trước hết xin nói về chữ “Thừa”, “Thừa” ( 乘 ) là dịch nghĩa của từ Yana, tiếng Phạn Sanscrit (S) và Pali (P) đều gọi là Yana, âm Hán Việt là Diễn na, có nghĩa là “Cỗ xe”, cũng có khi được hiểu như “Con thuyền”, là phương tiện đưa hành giả đến bờ giác ngộ.

Thật ra Phật giáo không chỉ có Đại thừa và Tiểu thừa. Trong các từ điển, sách vở Phật giáo ghi đến Tam thừa, bao gồm Bồ Tát thừa còn gọi là Đại thừa với đắc quả cao nhất là thành Phật. Thanh Văn thừa mà Đại thừa gọi là Tiểu Thừa với đắc quả cao nhất là A La Hán. Và Độc Giác thừa còn gọi là Duyên Giác thừa hay Trung thừa với đắc quả cao nhất là Độc Giác Phật (được xem như bậc Thánh ở quả vị khoảng giữa A La Hán và Phật), Tuy sách vở nói đến “Tam thừa”, nhưng chúng ta chỉ thường nghe phổ biến “Nhị Thừa” là Đại thừa và Tiểu thừa.

B- Giống nhau giữa Phật giáo Đại thừa (PG Đại thừa) và Phật giáo Tiều thừa (PG Tiểu thừa):

Điểm giống nhau dễ nhận thấy nhất giữa hai hệ phái lớn của Phật giáo là cùng bắt nguồn từ đức Phật, và cùng tôn kính đức Phật Thích Ca. Giáo pháp cơ bản của PG Đại thừa và PG Tiểu thừa gồm có: Tứ diệu đế (1), Thập nhị nhân duyên (2) (Mười hai nhân duyên), Bát chánh đạo (3), Nhân quả (4), Nghiệp (5)…

Tuy nhiên trong nhiều vấn đề khác, giữa hai phái có những sự khác biệt lớn.

C- Sự khác biệt giữa hai phái Phật giáo Đại thừa (PG Đại thừa) và Phật giáo Tiểu thừa (PG Tiểu Thừa):

Có mấy điểm khác biệt chính giữa PG Đại thừa và PG Tiểu thừa:

– PG Đại thừa xem đức Phật như một vị Thần vạn năng, uy lực tuyệt đối. Thọ mệnh của đức Phật là vô cùng, sắc thân của Ngài là vô biên, những gì do Ngài nói ra cũng đều viên mãn không có khuyết điểm, đều là chân lý. Ngoài đức Phật Thích Ca Mâu Ni, ở Tam thế (Quá khứ, hiện tại, vị lai) còn có vô số Phật các vị Phật khác, như lời của đức Cồ Đàm “Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”. Trong một ngôi chùa theo hệ phái PG Đại thừa thờ rất nhiều hình tượng, Phật Thích Ca, Phật A Di Đà, Phật Dược Sư Lưu Ly, Bồ Tát Quán Thế Âm, Bồ Tát Di Lặc, Tổ Bồ Đề Đạt Ma…

– PG Tiểu thừa coi đức Phật như một nhân vật lịch sử, một Con người và một Thày dạy, là một vị Giáo chủ chứ không phải như một vị Thần vạn năng, giáo lý của Ngài là con đường đi đến Giác ngộ, như Ngài đã khẳng định rằng mọi chúng sinh đều bình đẳng trong việc chứng ngộ chân lý, điều này không phụ thuộc vào thành phần xuất thân, mà vào hành vi đạo đức và sự hiểu biết về chân tướng của vạn pháp. Trong một ngôi chùa của PG Tiểu thừa, ta thấy chỉ thờ chủ yếu hình tượng của đức Phật Thích Ca Mâu Ni,

– PG Đại Thừa cho rằng Niết bàn (S: Nirvana) và Thế gian không khác biệt. Muốn đạt được Niết bàn chỉ là tiêu trừ Vô minh, và nhận thức được thực tướng của các hiện tượng sự vật. Cảnh giới Niết bàn không tồn tại độc lập với Thế gian.

– PG Tiểu Thừa cho rằng Niết bàn là cảnh giới đạt được sau khi thoát khỏi luân hồi sinh tử. Cảnh giới này hoàn toàn khác biệt với cảnh giới Trần thế.

– PG Đại thừa không quá chú trọng đến đời sống xuất gia, cư sĩ tại gia cũng có thể đạt đến Niết bàn với sự tế độ của chư Phật và chư Bồ tát. Niết bàn không chỉ là giải thoát khỏi Luân hồi (S&P: Samsara), mà Hành giả còn giác ngộ về Chân tâm và an trú trong đó. PG Đại Thừa xem trọng sự nhập thế, sự liên hệ mật thiết với đời sống thế tục, có như thế mới thực hiện được tính chất phổ độ chúng sinh, giúp chúng sinh vượt qua bể khổ (Bồ Tát hạnh)*.

– PG Tiểu Thừa chú trọng sự xuất gia, xa lánh thế gian, vì vậy PG Tiểu thừa quan niệm phải sống cuộc đời của kẻ tu hành. Đối với Tiểu thừa cuộc sống tại gia không thể đem đến sự giải thoát, hình ảnh tiêu biểu của Tiểu thừa là đắc quả A La Hán (S: Arhat), là người phải dựa vào chính bản thân để giải thoát. Không có thần thánh nào có thể làm việc ấy thay ta.

Ngoài ra cũng còn một số khác biệt khác giữa PG Đại thừa và PG Tiểu thừa, như:

– Kinh sách của PG Đại thừa viết bằng Phạn ngữ Sanscrit, là ngôn ngữ và chữ viết của giới quý tộc, trí thức ở miền Bắc Ấn Độ cổ đại, còn kinh sách của PG Tiểu thừa viết bằng Phạn ngữ Pali, là ngôn ngữ và chữ viết của giới bình dân ở miền Nam Ấn Độ.
Tương truyền khi sinh thời, đức Phật đã giảng Đạo pháp cho đại chúng bằng ngôn ngữ Pali.

– Giới tăng lữ của PG Đại thừa bao gồm cả Sa di, Tỳ kheo (nam tu sĩ) và Sa di ni, Tỳ kheo ni (nữ tu sĩ), trong khi tăng lữ của PG Tiểu thừa chỉ gồm Sa di, Tỳ kheo.

Còn nhiều nét khác nhau nữa giữa PG Đại thừa và PG Tiểu thừa, tuy nhiên trên đây là những nét khác nhau cơ bản dễ nhận biết giữa PG Đại thừa và PG Tiểu thừa.

D- PG Nam tông và PG Bắc tông, hay PG Nam truyền và PG Bắc truyền:

Nói PG Nam tông hay PG Bắc tông là nói theo hướng mà PG Ấn Độ truyền ra bên ngoài. PG Nam tông là tông phái PG được truyền theo hướng Nam nước Ấn Độ, cho nên cũng được gọi là PG Nam truyền chủ yếu thuộc phái Thượng tọa bộ PG, tức PG nguyên thủy (Tiểu thừa). PG Nam tông hay PG Nam truyền hiện diện ở các nước như Sri Lanka, và Đông Nam Á như Myanmar, Thailand, Cambodia, Laos… Còn PG Bắc tông, cũng gọi là PG Bắc truyền, chủ yếu thuộc Đại chúng bộ, tức PG Đại thừa, phổ biến ở các nước Đông Á như Trung Hoa, Tây Tạng, Nhật Bản, Đại Hàn… và Việt Nam…

Dù là đại thừa hay tiểu thừa cũng đều là Phật đạo, đều hướng người tu tới cảnh giới Niết bàn. Những người tu học không đến nơi đến đến chốn, thiếu kiến thức , trí tuệ thường sinh ra những ngộ nhận, định kiến xấu về đại thừa hay tiểu thừa. Người theo tiểu thừa thì nghĩ chữ tiểu thừa là do người bên đại thừa đặt nhằm chế nhạo, coi thường mình. Người tu đại thừa nghĩ mình theo dòng đại thừa là to lớn vĩ đại nên sinh lòng kiêu mạn… Chính vì những ngộ nhận, định kiến xấu đó mà không biết bao người đã phạm phải nhiều sai lầm gây đau khổ cho chính bản thân mình.

Đây là lý giải riêng tư của tác giả, nếu có phần nào sai sót xin được nhận góp ý và lượng thứ. Vài nét sơ lược về vấn đề bạn muốn tìm hiểu, hy vọng sẽ đáp ứng được phần nào…

Ghi chú:

(1) Tứ diệu đế (S: Arya Astangika Marga – P: Nidanas): là bốn sự thật quý báu, bao gồm: Khổ đế (những đau khổ của thế gian). Tập đế (kê hiện trạng của những đau khổ). Diệt đế (hoàn cảnh an lành sẽ đạt sau khi diệt trừ khổ). Đạo đế (phương pháp diệt đau khổ).
(2) Thập nhị nhân duyên (S: Pratitya Samutpada): là mười hai duyên khởi với mười hai yếu tố. các yếu tố này làm loài hữu tình mãi vướng trong luân hồi. Gồm: Vô minh (ngu dốt) – Hành (những hành động thuộc ý chí tạo nên Nghiệp) – Thức (nguyên nhân sự kết thành bào thai trong bụng mẹ) – Danh sắc (toàn bộ tâm, vật lý của một hiện hữu) – Lục nhập (sáu giác quan khi tiếp xúc: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý) – Xúc (tiếp xúc, sáu giác quan tiếp xúc sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) – Thọ (cảm giác khi tiếp xúc sáu trần) – Ái (ưa thích, đam mê) – Thử (chiếm giữ) – Hữu (tồn tại) – Sinh (tái sinh) – Lão tử (già, chết).
(3) Bát chánh đạo (S: Arya Astangika Marga: là tám con đường ngay thẳng, hay tám phương tiện nhiệm màu đưa chúng sinh đến đời sống chí diệu, gồm: Chánh kiến (thấy đúng)- Chánh tư duy (suy nghĩ đúng), Chánh ngữ (nói lời đúng, không độc ác), Chánh nghiệp (không làm những việc trái giới luật), Chánh mạng (nghề nghiệp sinh sống chân chính), Chánh tinh tấn (làm việc thiện không làm điều ác), Chánh niệm (suy nghĩ chân chính), Chánh định (thiền định chân chính).
(4) Nhân quả (P: Hetuppaccaya): là nguyên nhân và kết quả, làm điều thiện sẽ hưởng an lành.
(5) Nghiệp (S: Karma, P: Kamma): kết quả của một hành động được gây ra bởi ý thức (tâm hay ngôn ngữ). Một nghiệp tốt thường mang lại một kết quả tốt.

* Bồ Tát hạnh: những người tu tập theo PG Đại thừa thường đề cao và kính yêu vị thánh từ bi, hiện thân là một Bồ Tát, như Quán Thế Âm Bồ Tát. Đó là một vị thánh đạt đạo, luôn chia sẻ những khổ đau cũng như hy vọng của tất cả chúng sinh, nên đã tự mình không vào Niết bàn cho đến khi tất cả chúng sinh có thể cùng vào Niết Bàn. Người ta thường biết đến Quán Thế Âm Bồ Tát với Mười hai đại nguyện.

Sách tham khảo:

– Từ điển Phật học, Nguyên Hảo, Về nguồn xuất bản – Canada 1999.
– Từ điển Phật học, Ban biên dịch Đạo Uyển, NXB Thời Đại – 2011.
– Phật học phổ thông, HT Thích Thiện Hoa, Thành hội PG TP. HCM ấn hành – 1992.
– Tranh tượng & Thần phổ Phật giáo, Louis Frédéric, Bản tiếng Việt: Phan Quang Định, NXB Mỹ Thuật – 2005.
– Những tôn giáo lớn trong đời sống nhân loại, TS. Floyd H. Ross & GS. Tynette Hills. Dịch giả Tâm Quang, NXB Tôn giáo – 2007.
– Thế giới Phật giáo Phương diện Lịch sử Văn hóa và Minh triết, Điền Đăng Nhiên, Dịch giả Thích Ngộ Thành – 2009.
– Lịch sử Phật giáo, Nguyễn Tuệ Chân biên dịch, NXB Tôn giáo – 2011.