Home Blog

Đại Địa Ngục A Tỳ – 16 Điều Cấm Tuyệt Đối Đừng Làm

0

Dịch là vô gián địa ngục. Ngục nầy khổ gấp ngàn lần bảy địa ngục lớn trên kia hợp lại. Người phạm năm tội nghịch và 10 việc ác đọa vào ngục nầy. 5 tội nghịch là giết cha, giết mẹ, giết A la hán, phá hòa hợp chúng Tăng.

Những tội nhân phạm cả 5 tội nghịch thì có thân lớn 500 do tuần… phạm một tội thì 100 do tuần. Khi chưa chết tội nhân đã thấy những dấu hiệu trc mắt, sắc diện xấu như khúc cây bị cháy.

Người thọ nghiệp cực ác thì giảm thọ mạng, tâm kh tự tại, thân xuất dơ uế, y phục dơ, mồ hôi hôi hám, nhiều bệnh, lâm chung thấy các cảnh giới dữ tợn tâm hỏang hốt, nc mắt chảy, tay quờ quạng trên khôg, đại tiểu chảy ra, mắt trợn miệng mở lớn, tay chân co giựt mạnh chịu đủ thứ khổ sở không thể ví dụ. Còn cách địa ngục a tỳ 2 vạn rưỡi do tuần tội nhân đã nghe vô số âm thanh gào khóc ghê rợn.

Địa ngục khi thì lạnh như dao cắt, khi lại nóng như thiêu đốt. Tội nhân kh chết cũng bị chim trong địa ngục nầy ăn hết tủy não, qua vô lượng thời gian. Lại bị các con hắc trùng, chó dữ, sư tử hổ lang beo gấu… nhai ngấu nghiến chịu khổ trải trăm ngàn vạn năm tháng. Hết nghiệp ở đây thì sinh làm ngạ quỷ 200 ngàn kiếp, làm súc sanh 2000 kiếp, làm côn trùng hôi hám trong hầm phẩn và trùng dơ ăn thịt lẫn nhau. Khi đc làm người thì hết trong bụng mẹ trải năm trăm đời, 500 đời mới sinh đã chết, 500 đời chưa biết đi đã chết, khi sống đc thì nghèo khổ bệnh tật chịu nhiều khổ não. Đó là dư báo của tội ngũ nghịch. Xung quanh địa ngục vô gián lại có 16 biệt xứ như sau:

1. Ô khẩu xứ:

Người tà kiến tà hạnh ác độc, giết a la hán, ác tâm làm chảy máu thân Phật, tự làm bảo người làm thì chết đọa vào biệt xứ số 1 của vô gián địa ngục, chịu khổ gấp ngàn lần ở 7 địa ngục trc.

2. Nhất thiết huơng địa xứ:

Dâm dục Tỷ kheo, hoặc Tỷ kheo ni đã đắc A la hán thì chết đọa vào ngục nầy.

3. Vô bỉ ngạn xứ:

Thân cận bạn xấu hoăc tự mình vì dâm dục, vì uống rượu say hành dâm với cha mẹ thì chết đọa ngục nầy,

4. Dã can hống xứ:

Chê bai Thánh nhân, chê bai nhữg vị đã đắ tứ quả, hủy báng giới luật, kh phải pháp nói là pháp thì chết đọa vào ngục nầy.

5. Thiết dã can thực xứ:

Ác tâm đốt chùa, thiêu cháy tượng Phật, đốt kinh Phật, đốt đồ vật trog chùa, đốt y phục vật dụng của tăng chúng tự làm, bảo người làm hoặc nghe, thấy làm mà tán đồng thì chết đọa vào ngục nầy.

6. Hắc đỗ xứ:

Lấy tài vật của Phật mà dùng cho mình, không trả, không bồi thuờng, tự làm và bảo người làm thì chết đọa ngục nầy.

7. Thân đương xứ:

Lấy tài vật thuộc pháp bảo mà ăn, tự làm hoặc bảo người làm chết đọa ngục nầy.

8. Mộng kiến úy xứ:

Lấy vật tăng chúng mà dùng riêng cho mình khiến chúng đói khát, thối đạo, không tọa thiền, kh tịch tịnh đc, tự làm, bảo người làm, tán đồng việc ác ấy thì chết đọa vào ngục nầy.

9. Thân dương thọ khổ não xứ:

Lấy thuốc thang tài vật của người ta cúng dường Tỷ kheo bệnh, kh trả lại cũng không sám hối tự làm, bảo người làm, tán đồng việc ác ấy chết đọa vào ngục nầy.

10. Lưỡng sơn tụ xứ:

Ăn trộm đồ dùng của bậc Độc giác Phật để dùng cho mình thì chết đọa ngục nầy.

11. Diêm bà phả độ xứ:

Ở chỗ đông người sinh hoạt mà vì tư lợi ngăn sông lấp suối khiến hết thảy người vật bị đói khát thì hết đọa vào ngục nầy.

12. Tinh man xứ:

Vì có tội, bị đói khát bức bách lại trộm đồ ăn của bậc A la hán, tự làm, bảo người làm thì chết đọa ngục nầy.

13. Nhất thiết khổ triền xứ:

Người ác tâm khởi tưởng điên đảo phá hủy văn tự ngữ ngôn của đấng Nhất thiết trí, khiến cho chúng sinh không tin Phật thì chết đọa ngục nầy.

14. Xú khí phí xứ:

Người ác tâm sân tâm phóng hỏa đốt ruộng đất, phá hủy ruộng vườn cây cối của Tăng chúng khiến Tăng bị thiệt hại chết đọa vào ngục nầy.

15. Thiết diệp xứ:

Gặp thời thiếu thốn, hạ an cư đã hứa cúng dường chúng Tăng sau kh cúng, Tăng đến còn đuổi đi khiến cho họ bị đói khát, não loạn, phế bỏ đạo nghiệp. Người ác tâm như vậy chết đọa ngục nầy.

16. Thập nhất diệm xứ:

Người ác tâm hủy hoại tượng tháp Phật, phòng xá Tăng, phá chùa, nghe pháp chỉ để tìm cách phỉ báng do ác nghiệp ấy chết đọa vào ngục nầy.

Trên đây là 16 biệt xứ của đại địa ngục vô gián, tội nhân chịu khổ kh gián đoạn thân thể lớn đầy cả ngục, mỗi ngục đều có 16 biệt xứ, riêng đại địa nguc thứ 5 là đại địa ngục kêu gào lớn lại có 18 biệt xứ, người đời gọi 18 tầng địa ngục là ám chỉ 18 biệt xứ của địa ngục nầy.

Ngoài ra còn có 8 địa ngục lạnh như sau: 1, Pháo bỏng, phồng da. 2. Pháo liệt. 3. Hổ hổ phàm. 4. Hách hách phàm. 5. A tra tra. 6. Thanh liên hoa. 7. Hồng liên hoa. 8. Đại liên hoa.

Tám địa ngục nầy lạnh vô cùng thống khổ không thể tả, da thịt nứt nẻ chịu khổ không có thời gian, ngoài ra còn có vô số địa ngục như Kinh Quán Phật Tam Muội Hải quyển 5 nói có 18 địa ngục nhỏ, 18 địa ngục lạnh, 18 địa ngục đen tối, 18 địa ngục nóng, nhỏ, 18 địa ngục vòng đao, 18 địa ngục vòng kiếm, 18 địa nguc xe lửa, 18 địa ngục phân sôi, 18 địa ngục nước đồng sôi, 18 địa ngục sông tro, 500 ức địa ngục rừng kiếm, 500 ức rừng chông, 500 ức địa ngục cột đồng, 500 ức địa ngục thiết cơ, 500 ức địa ngục lưới săt, 18 địa ngục thiết quật, 18 địa ngục thiết hoàn, 18 địa ngục đá nhọn, 18 địa ngục uống đồng, số lượng của địa ngục đã quá ngàn ức.

Thế Tôn vì lòng xót thuơng chúg sanh cang cường cố thủ những nghiệp bất thiện mà phải nói ra pháp nầy để họ răn chừa tỉnh ngộ. Đây chỉ nói sơ lược, nếu nói kỷ thì không bút nào tả xiết. Những người có trí nghe một chuyện suy ra trăm chuyện, có thể nhờ vậy cẩn thận giữ gìn giới thể kh dám phạm tội dù nhỏ như đường tơ kẻ tóc.

Nghi Thức Sám Hối Tại Gia – 7 Bước Phải Tuân Theo

0

NGHI THỨC SÁM HỐI

NIỆM HƯƠNG LỄ BÁI
(Thắp đèn đốt hương trầm xong, đứng ngay ngắn chắp tay để ngang ngực mật niệm)

 TỊNH PHÁP-GIỚI CHƠN-NGÔN:

Án lam xóa ha. (3 lần)

TÌNH TAM-NGHIỆP CHƠN-NGÔN:

Án ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ, đạt mạ ta phạ, bà phạ truật độ hám. (3 lần)

 HỒNG DANH SÁM-HỐI
(Sám-hối là làm cho ba nghiệp được thanh-tịnh)

(Tất cả đều quỳ thẳng và chắp tay, vị chủ lễ cầm ba cây hương đưa ngang trán và đọc bài cúng hương như sau):

Nguyện thử diệu hương vân,
Biến mãn thập phương giới,
Cúng-dường nhứt-thế Phật,
Tôn pháp chư Bồ tát,
Vô biên Thanh văn chúng,
Cập nhứt thế Thánh-Hiền,
Duyên khởi quang minh đài,
Xứng tánh tác Phật-sự,
Phổ huân chư chúng-sanh,
Giai phát Bồ-Ðề tâm,
Viễn-ly chư vọng-nghiệp,
Viên-thành vô-thượng đạo.

KỆ TÁN-DƯƠNG PHẬT-BẢO

Pháp vương vô-thượng tôn
Tam-giới vô luân thất
Thiên nhơn chi Ðạo-sư
Tứ-sanh chi từ-phụ
Ư nhứt niệm quy-y
Năng diệt tam-kỳ nghiệp
Xưng dương nhược tán-thán
Ức kiếp mạc năng tận.

(Ðứng dậy cấm hướng lên lư rồi chắp tay đứng thẳng và niệm lớn):

QUÁN TƯỞNG

Năng lễ, sở lễ tánh không tịch,
Cảm ứng đạo-giao nan tư nghì,
Ngã thử đạo tràng như Ðế-châu,
Thập phương chư Phật ảnh hiện trung,
Ngã thân ảnh hiện chư Phật tiền,
Ðầu diện tiếp túc quy mạng lễ. (1 xá)

– Chí tâm đảnh lễ: Nam-mô Tận hư-không, biến pháp-giới, quá, hiện, vị-lai thập-phương chư Phật, Tôn-Pháp, Hiền-Thánh Tăng, Thường-trú Tam-Bảo. (1 lạy)

– Chí tâm đảnh lễ: Nam-mô Ta-bà Giáo-chủ, Bổn-sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật, Long-Hoa Giáo-chủ đương lai hạ sanh Di-Lặc Tôn Phật, Ðại-trí Văn-Thù Sư-Lợi Bồ-tát, Ðại-hạnh Phổ-Hiền Bồ-tát, Hộ-Pháp Chư-tôn Bồ-tát, Linh-sơn hội thượng Phật Bồ-tát. (1 lạy)

– Chí tâm đảnh lễ: Nam-mô Tây-phương Cực-lạc thế-giới Ðại-từ Ðại-bi A-Di-Ðà Phật, Ðại bi Quán-Thế-AÂm Bồ-tát, Ðại-Thế-Chí Bồ-tát, Ðại-nguyện Ðịa-Tạng-Vương Bồ-tát, Thanh-tịnh Ðại-hải-chúng Bồ-tát. (1 lạy)

(Ðồng đứng ngay thẳng chắp tay đọc bài)

TÁN DƯƠNG CHI

Dương-chi tịnh thủy,
Biến sái tam-thiên,
Tánh không bát-đức lợi nhơn thiên,
Pháp-giới quảng tăng diên…
Diệt tội tiêu khiên,
Hỏa diệm hóa Hồng-liên.
Nam-mô Thanh-Lương-Ðịa Bồ-tát. (3 lần)

CHÚ ÐẠI-BI

(Hoặc bớt chú Ðại-bi cũng được)
Nam-mô Ðại-Bi Hội-Thượng Phật Bồ-Tát. (3 lần)

Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại-bi tâm đà-la-ni.
Nam-mô hắc ra đát na, đa ra dạ da.
Nam-mô a rị da, bà lô yết đế, thước bát ra da, Bồ-đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da, án, tát bàn ra phạt duệ số đát na đát tỏa.
Nam-mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da, bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà.
Nam-mô na ra cẩn trì hê rị ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu thâu bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà già, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ-đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô kiết mông, độ lô độ lô, phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra. Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê y hê, thất na thất na a ra sâm Phật ra xá-lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ-đề dạ bồ-đề dạ, bồ-đà dạ, bồ-đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì địa rị sắc ni na, ba dạ ma na ta bà ha. Tất đà dạ ta bà ha. Ma ha tất đà dạ ta bà ha. Tất đà du nghệ thất bàn ra dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì ta bà ha. Ma ra na ra ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ, ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lị thắng yết ra dạ, ta bà ha.
Nam-mô hắc ra đát na, đa ra dạ da.
Nam-mô a rị da, bà lô yết đế, thước bàng ra dạ, ta bà ha.
Án tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ, ta bà ha. (3 lần)

Nam-mô Bổn-sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật. (3 lần)

KHAI KINH KỆ

Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp,
Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ,
Ngã kim kiến văn đắc thọ trì,
Nguyện giải Như-Lai chơn thiệt nghĩa.

Nam-mô Hồng Danh Hội Thượng Bồ-Tát. (3 lần)

HỒNG-DANH BỬU-SÁM


Ðại-từ đại-bi mẫn chúng-sanh,
Ðại-hỉ đại-xả tế hàm-thức,
Tướng-hảo quang-minh dĩ tự nghiêm,
Chúng đẳng chí tâm quy mạng lễ. O (1)
Nam-mô quy-y Kim-Cang Thượng sư. O (2)
Quy-y Phật, quy-y Pháp, quy-y Tăng. O (3)

Ngã kim phát tâm, bất vị tự cầu Nhơn-Thiên phước báo, Thanh Văn, Duyên-Giác, nãi chí Quyền-thừa chư vị Bồ-tát, quy y tối thượng thừa, phát bồ-đề tâm, nguyện dữ pháp-giới chúng-sanh nhứt thời đồng đắc A-Nậu-Ða-La Tam-Miệu Tam-Bồ-Ðề. O (4)

Nam-mô quy-y thập-phương tận hư-không giới nhứt thiết chư Phật. O (5)

Nam-mô quy-y thập-phương tận hư-không giới nhứt thiết Tôn Pháp. O (6)

Nam-mô quy-y thập-phương tận hư-không giới nhứt thiết Hiền Thánh Tăng. O (7)

Nam-mô Như-Lai, Ưng-Cúng, Chánh-Biến-Tri, Minh-Hạnh-Túc, Thiện-Thệ, Thế-Gian-Giải, Vô-Thượng-Sĩ, Ðiều-Ngự Trượng-Phu, Thiên-Nhơn-Sư, Phật, Thế-Tôn. O (8)

Nam-mô Phổ-Quang Phật. O (9)

Nam-mô Phổ-Minh Phật. O (10)

Nam-mô Phổ-Tịnh Phật. O (11)
[1]

Nam-mô Ða-Ma-La-Bạt-Chiên-Ðàn-Hương Phật. O (12)

Nam-mô Chiên-Ðàn Quang Phật. O (13)

Nam-mô Ma-Ni-Tràng Phật. O (14)

Nam-mô Hoan-Hỉ-Tạng-Ma-Ni-Bảo-Tích Phật. O (15)

Nam-mô Nhứt-Thiết Thế-Gian Nhạo-Kiến-Thượng-Ðại Tinh-Tấn Phật. O (16)

Nam-mô Ma-Ni-Tràng-Ðăng-Quang Phật. O (17)

Nam-mô Huệ-Cự-Chiếu Phật. O (18)

Nam-mô Huệ-Ðức-Quang-Minh Phật. O (19)

Nam-mô Kim-Cang Lao-Cường-Phổ-Tán-Kim-Quang Phật. O (20)

Nam-mô Ðại-Cường Tinh-Tấn Dõng-Mãnh Phật. O (21)

Nam-mô Ðại-Bi-Quang Phật. O (22)

Nam-mô Từ-Lực-Vương Phật. O (23)

Nam-mô Từ-Tạng Phật. O (24)

Nam-mô Chiên-Ðàn Khốt Trang-Nghiêm-Thắng Phật. O (25)

Nam-mô Hiền-Thiện-Thủ Phật. O (26)

Nam-mô Thiện-Ý Phật. O (27)

Nam-mô Quảng Trang-Nghiêm-Vương Phật. O (28)

Nam-mô Kim-Hoa-Quang Phật. O (29)

Nam-mô Bảo-Cái-Chiếu Không Tự-Tại Lực Vương Phật. O (30)

Nam-mô Hư-Không Bảo-Hoa Quang Phật. O (31)

Nam-mô Lưu-Ly Trang-Nghiêm Vương Phật. O (32)

Nam-mô Phổ-Hiện-Sắc-Thân-Quang Phật. O (33)

Nam-mô Bất-Ðộng-Trí Quang Phật. O (34)

Nam-mô Hàng Phục Chúng-Ma-Vương Phật. O (35)

Nam-mô Tài Quang-Minh Phật. O (36)

Nam-mô Trí-Huệ-Thắng Phật. O (37)

Nam-mô Di-Lặc-Tiên Quang Phật. O (38)

Nam-mô Thiện-Tịch-Nguyệt-AÂm Diệu-Tôn Trí-Vương Phật. O (39)

Nam-mô Thế-Tịnh-Quang Phật. O (40)

Nam-mô Long-Chủng-Thượng-Tôn-Vương Phật. O (41)

Nam-mô Nhựt-Nguyệt-Quang Phật. O (42)

Nam-mô Nhựt-Nguyệt-Châu-Quang Phật. O (43)

Nam-mô Huệ-Tràng-Thắng-Vương Phật. O (44)

Nam-mô Sư-Tử-Hẩu-Tự-Tại-Lực-Vương Phật. O (45)

Nam-mô Diệu-AÂm-Thắng Phật. O (46)

Nam-mô Thường-Quang-Tràng Phật. O (47)

Nam-mô Quan-Thế-Ðăng Phật. O (48)

Nam-mô Huệ-Oai-Ðăng-Vương Phật. O (49)

Nam-mô Pháp-Thắng-Vương Phật. O (50)

Nam-mô Tu-Di Quang Phật. O (51)

Nam-mô Tu-Ma-Na-Hoa Quang Phật. O (52)

Nam-mô Ưu-Ðàm-Bát-La-Hoa Thù-Thắng-Vương Phật. O (53)

Nam-mô Ðại-Huệ-Lực-Vương Phật. O (54)

Nam-mô A-Súc-Tỳ-Hoan-Hỉ-Quang Phật. O (55)

Nam-mô Vô-Lượng-AÂm-Thinh-Vương Phật. O (56)

Nam-mô Tài-Quang Phật. O (57)

Nam-mô Kim-Hải-Quang Phật. O (58)

Nam-mô Sơn-Hải-Huệ-Tự-Tại-Thông-Vương Phật. O (59)

Nam-mô Ðại-Thông-Quang Phật. O (60)

Nam-mô Nhứt-Thiết-Pháp-Tràng-Mãn-Vương Phật. O (61)

Nam-mô Thích-Ca Mâu-Ni Phật. O (62)

Nam-mô Kim-Cang Bất-Hoại Phật. O (63)

Nam-mô Bảo-Quang Phật. O (64)

Nam-mô Long-Tôn-Vương Phật. O (65)

Nam-mô Tinh-Tấn-Quân Phật. O (66)

Nam-mô Tinh-Tấn-Hỷ Phật. O (67)

Nam-mô Bảo-Hỏa Phật. O (68)

Nam-mô Bảo-Nguyệt-Quang Phật. O (69)

Nam-mô Hiện-Vô-Ngu Phật. O (70)

Nam-mô Bảo-Nguyệt Phật. O (71)

Nam-mô Vô-Cấu Phật. O (72)

Nam-mô Ly-Cấu Phật. O (73)

Nam-mô Dõng-Thí Phật. O (74)

Nam-mô Thanh-Tịnh Phật. O (75)

Nam-mô Thanh-Tịnh Thí Phật. O (76)

Nam-mô Ta-Lưu-Na Phật. O (77)

Nam-mô Thủy-Thiên Phật. O (78)

Nam-mô Kiên-Ðức Phật. O (79)

Nam-mô Chiên-Ðàn Công-Ðức Phật. O (80)

Nam-mô Vô-Lượng-Cúc-Quang Phật. O (81)

Nam-mô Quang-Ðức Phật. O (82)

Nam-mô Vô-Ưu-Ðức Phật. O (83)

Nam-mô Na-La-Diên Phật. O (84)

Nam-mô Công-Ðức-Hoa Phật. O (85)

Nam-mô Liên-Hoa-Quang-Du-Hí Thần-Thông Phật. O (86)

Nam-mô Tài-Công-Ðức Phật. O (87)

Nam-mô Ðức Niệm Phật. O (88)

Nam-mô Thiện Danh-Xưng Công-Ðức Phật. O (89)

Nam-mô Hồng-Diệm-Ðế-Tràng-Vương Phật. O (90)

Nam-mô Thiện-Du-Bộ Công-Ðức Phật. O (91)

Nam-mô Ðấu-Chiến-Thắng Phật. O (92)

Nam-mô Thiện-Du-Bộ Phật. O (93)

Nam-mô Châu-Tráp Trang-Nghiêm-Công-Ðức Phật. O (94)

Nam-mô Bảo-Hoa Du-Bộ Phật. O (95)

Nam-mô Bảo-Liên-Hoa-Thiện-Trụ-Ta-La-Thọ-Vương Phật. O (96)

Nam-mô Pháp-Giới-Tạng-Thân-A-Di-Ðà Phật. O (97)

Như thị đẳng, nhứt thiết thế-giới, chư Phật Thế-Tôn, thường-trụ tại thế, thị chư Thế-Tôn đương từ niệm ngã! Nhược ngã thử sanh, nhược ngã tiền sanh, tùng vô-thỉ sanh-tử dĩ lai, sở tác chúng tội, nhược tự tác, nhược giáo tha tác, kiến tác tùy-hỉ. Nhược tháp, nhược Tăng, nhược tứ phương tăng vật, nhược tự thủ, nhược giáo tha thủ, kiến thủ tùy-hỉ.

Ngũ vô-gián tội, nhược tự tác, nhược giáo tha tác, kiến tác tùy-hỉ.

Thập bất thiện đạo, nhược tự tác, nhược giáo tha tác, kiến tác tùy-hỉ.

Sở tác tội-chướng, hoặc hữu phú tàng, hoặc bất phú tàng, ưng đọa địa-ngục, ngạ-quỉ súc-sanh, chư dư ác thú, biên-địa, hạ tiện, cập miệt lệ-xa, như thị đẳng xứ, sở tác tội-chướng, kim giai sám-hối. O (98)

Kim chư Phật Thế-Tôn, đương chứng tri ngã, đương chứng tri ngã, đương ức niệm ngã, ngã phục ư chư Phật Thế-Tôn tiền, tác như thị ngôn: nhược ngã thử sanh, nhược ngã dư sanh, tằng hành bố-thí, hoặc thủ tịnh giới, nãi chí thí dữ súc-sanh, nhứt đoàn chi tự, hoặc tu tịnh-hạnh, sở hữu thiện-căn, thành-tựu chúng-sanh, sở hữu thiện-căn, tu-hạnh bồ-đề, sở hữu thiện-căn, cập vô thượng trí, sở hữu thiện-căn, nhứt thiết hiệp tập, giảo kế trù lượng, giai tất hồi-hướng A-nậu-đa-la tam-miệu-tam-bồ-đề; Như quá-khứ, vị-lai, hiện-tại chư Phật sở tác hồi-hướng, ngã diệc như thị hồi-hướng, chúng tội giai sám-hối, chư phước tận tùy-hỉ, cập thỉnh Phật công-đức, nguyện thành vô-thượng trí.

Khứ, lai, hiện-tại Phật, ư chúng-sanh tối-thắng, vô-lượng công-đức hải, ngã kim qui-mạng lễ. O (99)

Sở hữu thập-phương thế-giới trung,

Tam thế nhứt thiết nhơn Sư-Tử,

Ngã dĩ thanh-tịnh thân, ngữ, ý

Nhứt thiết biến lễ tận vô dư,

Phổ-Hiền hạnh nguyện oai-thần lực,

Phổ hiện nhứt thiết Như-Lai tiền,

Nhứt thân phục hiện sát-trần thân,

Nhứt nhứt biến lễ sát-trần Phật. O (100)

Ư nhứt trần trung trần số Phật,

Các xử Bồ-tát chúng hội trung,

Vô tận pháp-giới trần diệc nhiên,

Thâm tín chư Phật giai sung mãn.

Các dĩ nhứt thiết âm thinh hải

Phổ xuất vô tận diệu ngôn từ,

Tận ư vị lai nhứt thiết kiếp,

Tán Phật thậm thâm công-đức hải. O (101)

Dĩ chư tối thắng diệu hoa man

Kỷ-nhạc đồ hương cập tán-cái

Như thị tối-thắng trang nghiêm cụ,

Ngã dĩ cúng-dường chư Như-Lai,

Tối-thắng y-phục tối-thắng hương,

Mạc hương, thiêu hương dữ đăng chúc,

Nhứt nhứt giai như diệu-cao tụ,

Ngã tất cúng-dường chư Như-Lai,

Ngã dĩ quảng đại thắng giải tâm,

Thâm tín nhứt thiết tam thế Phật,

Tất dĩ Phổ Hiền hạnh nguyện lực,

Phổ biến cúng-dường chư Như-Lai. O (102)

Ngã tích sở tạo chư ác nghiệp,

Giai do vô thỉ tham, sân, si,

Tùng thân ngữ ý chi sở sanh,

Nhứt thiết ngã kim giai sám-hối. O (103)

Thập phương nhứt thiết chư chúng-sanh,

Nhị thừa hữu-học cập vô-học,

Nhứt thiết Như-Lai dữ Bồ-tát,

Sở hữu công-đức giai tùy-hỉ. O (104)

Thập phương sở hữu thế-gian đăng,

Tối-sơ thành-tựu Bồ-đề giả,

Ngã kim nhứt thiết giai khuyến thỉnh,

Chuyển ư vô-thượng diệu pháp-luân. O (105)

Chư Phật nhược dục thị Niết-bàn,

Ngã tất chí-thành nhi khuyến thỉnh,

Duy nguyện cửu trụ sát-trần kiếp,

Lợi lạc nhứt thiết chư chúng sanh. O (106)

Sở hữu lễ tán cúng-dường phước,

Thỉnh Phật trụ thế chuyển pháp-luân,

Tùy-hỉ, sám-hối chư thiện-căn,

Hồi hướng chúng-sanh cập Phật đạo. O (107)

Nguyện tương dĩ thử thắng công-đức,

Hồi-hướng vô-thượng chơn pháp-giới,

Tánh tướng Phật, Pháp cập Tăng-già,

Nhị đế dung thông tam-muội ấn,

Như thị vô-lượng công-đức hãi,

Ngã kim giai tất tận hồi-hướng,

Sở hữu chúng-sanh thân, khẩu, ý,

Kiến hoặc đàn báng ngã pháp đẳng,

Như thị nhứt thiết chư nghiệp-chướng

Tất giai tiêu-diệt tận vô dư,

Niệm niệm trí châu ư pháp-giới,

Quảng độ chúng-sanh giai bất thối,

Nãi chí hư-không thế-giới tận,

Chúng-sanh cập nghiệp phiền-não tận,

Như thị tứ pháp quảng vô-biên,

Nguyện kim hồi-hướng diệc như-thị. O (108)

Nam-mô Ðại-hạnh Phổ-Hiền Bồ-tát. (3 lần)

MA-HA BÁT-NHÃ BA-LA MẬT-ÐA TÂM KINH

Quán-tự-tại Bồ-tát, hành thâm Bát-nhã Ba-la mật-đa thời, chiếu kiến ngũ-uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.

Xá-Lợi-Tử ! Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị.

Xá-Lợi-Tử ! Thị chư Pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Thị cố không trung, vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức, vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý-thức-giới, vô vô-minh diệc, vô vô-minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão-tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc.

Dĩ vô sở đắc cố, Bồ-đề tát-đỏa y Bát-nhã-ba-la mật-đa cố, tâm vô quái-ngại; vô quái-ngại cố, vô hữu khủng-bố, viễn ly điên-đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết-bàn. Tam-thế chư Phật, y Bát-nhã-ba-la mật-đa cố, đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề.

Cố tri Bát-nhã Ba-la-mật-đa, thị đại-thần chú, thị đại minh chú, thị vô-thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thiệt bất hư.

Cố thuyết Bát-nhã-ba-la-mật-đa chú, tức thuyết chú viết:

Yết-đế yết-đế, ba-la yết-đế, ba-la-tăng yết-đế, Bồ-đề tát bà ha. (3 lần)

VÃNG-SANH QUYẾT-ÐỊNH CHƠN-NGÔN

Nam-mô a di đa bà dạ, Ða tha dà đa dạ, Ða địa dạ tha.

A di rị đô bà tỳ,

A di rị đa tất đam bà tỳ,

A di rị đa tì ca lan đế,

A di rị đa, tì ca lan đa,

Dà di nị dà dà na,

Chỉ đa ca lệ ta bà ha.

TÁN PHẬT

A-Di-Ðà Phật thân kim sắc,

Tướng hảo quang-minh vô đẳng-luân,

Bạch hào uyển-chuyển ngũ tu-di,

Cám mục trừng thanh tứ đại hải,

Quang trung hóa Phật vô số ức,

Hóa Bồ-tát chúng diệc vô-biên,

Tứ thập bát nguyện độ chúng-sanh,

Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn.

Nam-mô Tây-phương Cực-lạc thế-giới, đại-từ đại-bi, tiếp dẫn đạo-sư A-Di-Ðà Phật.

Nam-mô A-Di-Ðà Phật. (30 biến, niệm nhiều càng tốt)

Nam-mô Ðại-bi Quán-Thế-AÂm Bồ-tát. (3 lần)

Nam-mô Ðại-Thế-Chí Bồ-tát. (3 lần)

Nam-mô Ðại-Tạng Vương Bồ-tát. (3 lần)

Nam-mô Thanh-tịnh Ðại-Hải chúng Bồ-tát. (3 lần)
(Ðồng quỳ xuống chắp tay và đọc bài sám như sau)

SÁM HỐI PHÁT NGUYỆN

Ðệ tử kính lạy đứùc Phật Thích-Ca,
Phật A-Di-Ðà,
Thập phương chư Phật,
Vô lượng Phật Pháp,
Cùng Thánh Hiền Tăng,
Ðệ-tử lâu đời lâu kiếp
Nghiệp-chướng nặng nề,
Tham giận kiêu-căng,
Si-mê lầm-lạc,
Ngày nay nhờ Phật,
Biết sự lỗi lầm,
Thành tâm sám hối,
Thề tránh điều dữ,
Nguyện làm việc lành,
Ngửa trông ơn Phật,

Từ-bi gia hộ,
Thân không tật bệnh,
Tâm không phiền-não,
Hàng ngày an vui tu tập,
Phép Phật nhiệm-mầu,
Ðể mau ra khỏi luân-hồi,
Minh tâm kiến tánh,
Trí-huệ sáng-suốt,
Thần-thông tự-tại,
Ðặng-cứu độ các bậc tôn trưởng,
Cha mẹ anh em,
Thân bằng quyến thuộc,
Cùng tất cả chúng-sinh,
Ðồng thành Phật-đạo.

(Tiếp đọc bài hồi hướng)

HỒI HƯỚNG

Sám-hối công-đức thù thắng hạnh,
Vô biên thắng phước giai hồi-hướng,
Phổ nguyện pháp-giới chư chúng-sanh,
Tốc vãng vô-lượng-quang Phật sát.

Nguyện tiêu tam-chướng trừ phiền-não,
Nguyện đắc trí-huệ chơn minh liễu,
Phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ.
Thế thế thường hành Bồ-tát đạo.

Nguyện sanh Tây-phương Tịnh-độ trung,
Cửu phẩm Liên-hoa vi phụ mẫu,
Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh,
Bất thối Bồ-tát vi bạn lữ.
Nguyện dĩ thử công-đức,
Phổ cập ư nhứt thiết,
Ngã đẳng dữ chúng-sanh,
Giai cộng thành Phật-đạo.

PHỤC NGUYỆN   
Nam-mô A-Di-Ðà Phật

Thượng lai đệ-tử chúng đẳng, chí thành lễ Phật Hồng danh, sám hối công-đức.

Chuyên vì, thượng báo tứ trọng ân, hạ tế tam đồ khổ. Thứ  nguyện hiện tiền đệ-tử chúng đẳng, tội diệt phước sanh, Bồ-đề tâm tăng trưởng, trí tánh thường minh, Bát-nhã hoa khai, Ðạo tâm bất thối.

PHỔ NGUYỆN
Âm siêu dương thới, Pháp giới chúng sanh, Tình dữ vô tình, Tề thành Phật-đạo.

Nam-mô A-Di-Ðà Phật.
(Ðồng niệm lớn)

TAM QUY Y

Tự quy-y Phật, đương nguyện chúng-sanh, thể giải đại đạo, phát vô-thượng tâm. (1 lạy)

Tự quy-y Pháp, đương nguyện chúng-sanh, thâm nhập kinh-tạng, trí huệ như hải. (1 lạy)

Tự quy-y Tăng, đương nguyện chúng-sanh, thống-lý đại-chúng, nhứt thiết vô ngại. (1 lạy)

(Xá rồi lui ra)

Bùa Chú – Phù Chú – Linh Vật Của Phái Mật Tông

0

Phù chú linh vật thường dùng trong Mật Tông

Trong Mật Pháp của Tây Tạng và Ấn Độ, chỉ thấy có ấn khuyết, thần chú, và cách quán tưởng, chứ  thường Ta sẽ không thấy các dạng bùa như tài liệu dưới đây ————–

Nguyên thủy của Mật tông vốn không có tự dạng, không ấn khế, không linh phù. Nhưng Phật Pháp vô biên, ví như biển lớn dung hội trăm sông ngàn suối đổ về. Để thuận tiện cho việc giáo hóa chúng sanh, các vị pháp sư đã thu phục các linh thần bản địa, dung hội những pháp môn truyền thống của địa phương vào trong Phật pháp. Nhờ vậy mà giáo lý của đức Thế Tôn mới được phổ biến rộng khắp. Dĩ nhiên, pháp tu Mật vì thế mà thay đổi ít nhiều. Từ thời các vị đại sư như Bất Không, Kim Cang Trí… Mật pháp đã có sự dung hòa với đạo Lão sau khi pháp phục tôn giáo này. Nếu xem lại Bộ Mật Tông của thầy Viên Đức, mọi người sẽ thấy phù Uế tích Kim Cang, phù Bắc Đẩu Thất tinh Diên mạng… đều mang hình thái linh phù của Lão giáo. Mật tông đưa các linh phù dạng này vào hai bộ chính là Bảo Bộ và Yết Ma bộ. Cho nên, nói những linh phù này là Lỗ Ban cũng đúng, gọi là linh phù Mật Tông cũng không sai.

Mật giáo Tây Tạng cũng tương tự như thế. Khi đức Liên Hoa Sanh sang Tây Tạng giáo hoá, ngài đã dùng thần thông lấn át đạo Bon, thu phục các linh thần bản địa thành những vị Thủ hộ thần. Dĩ nhiên, làm sao để các đệ tử triệu thỉnh, phụng tống các vị linh thần này cùng với việc thực hiện những pháp Tức tai, Tăng ích, Hàng phục, Kính ái …trong khi đời sau không phải ai cũng thần thông như ngài Liên Hoa Sanh? … Vậy là Madala, Ấn khế, Mật chú … ra đời và có sự truyền thừa ngày càng phong phú đa dạng tùy theo sở đắc và cơ giáo hóa của các vị truyền thừa. Trước đây, khi có người hỏi sư ông khi trì chú X,Y… thì nên kết ấn khế làm sao. Ông trả lời ngắn gọn: ” Chỉ có một ấn duy nhất”, nói xong ông chắp hai tay lại với nhau và mỉm cười. Mãi sau này vị đó mới hiểu phần nào điều ông nói.

Thông thường , 1 lá phù in ra thì không có linh nghiệm . Trừ khi ta mất công gia trì vào trong đó . Trong các trường phái Mật giáo tây tạng cũng có nhiều loại phù kỳ lạ , trong đó các pháp làm cho lá phù đó linh nghiệm cũng do đó mà khác nhau không đồng .

Vì LDK học về Mật giáo tây tạng nên cũng chỉ biết về Phù thuật bên đó , vậy xin những ai biết về Mật giáo việt nam cùng chỉ giáo cho Topic này thêm lợi ích !

VÀ CUỐI CÙNG XIN ĐỪNG QUÊN RẰNG , TẤT CẢ NHỮNG BÙA CHÚ LINH PHÙ NÀY ĐỀU LÀ GIẢ TẠM , CHỈ CÓ CON ĐƯỜNG TÌM CẦU GIẢI THOÁT MỚI RỐT RÁO .

Namo Amitabha


Hình thần chú Thời Luân Kim Cang.

Đây là một hình tượng rất phổ biến ở tây tạng , là biểu tượng của pháp tu tối cao kalachakra của mật tông. reo Linh Phù này trước cửa chính của nhà , Phật Thời Luân sẽ đem lại may mắn cho cả gia đình , tiêu trừ tai nạn , đem lại sự bình an cát tường . Giải mọi điều không tốt về phong thủy . Gia đạo an vui , bệnh tật tiêu trừ ..

Gia trì bằng cách tụng 1080 biến thần chú Om MANI PADME HUM , thổi vào phù . Ai cũng có thể làm được .

Dao Phổ ba 

Dao phổ ba , một trong những linh vật trừ tà trong mật tông , pháp khí của đức Phổ ba kim cang .

Trên đầu con dao là đầu ngài Kim cang phổ ba , một trong những bổn tôn phẫn nộ của mật giáo . Con dao này có 3 cạnh , như hình tam giác , rất ít khi thấy có loại dao nào kỳ lạ như vậy . Theo lời thầy của LDK thì có lẽ nó giống cái dùi cọc để đóng xuống đất khi dưng lều trại của dân du mục . Trong truyền thuyết có nói . Nêu lấy bốn con dao này cắm xuống đất là nơi đó không có ma tà quấy nhiễu . Cầm con dao này mà niệm chú thì quỷ ma không dám đến gần . Trục tà rất tốt .

Theo một số các luyện bí mật thì khi thỉnh về nên lấy máu của mình nhỏ vào đó , luyện với chú của bổn tôn phẫn nộ bât kỳ .

Phù hộ gia , trấn trạch

Đây là loại linh phù trấn trạch tây tạng .

cấu trúc của phù là có 3 vị đại bồ tát : văn thù , quan âm , đại hắc thiên trấn trên đầu phù , ở giữa là bùa bát quái của tây tạng , 2 bên là 2 linh phù trường thọ , phối hợp với các bài chú khác . đằng sau linh phù là các bài thần chú như Chuẩn đề Chú , Lục Tự Chú , ….
Treo linh phù này nơi chính môn sẽ được 3 vị bồ tát gia hộ cho gia đình luôn may mắn , không gặp tai nạn , luôn bình an , cát tường , mọi tà ma , tà thuật , bùa ngãi đều không thể xâm nhập vào nhà hay làm hại mọi người trong gia đình , tất cả đều được trường thọ gặp nhiều điều an lành …

Cách gia trì là đọc chú
QUán thế âm : Om mani padme hum
Văn thù sư lợi : Om A Ra pa sa na Dhi
Kim cang thủ : Om vajra pani hum

Mỗi chú 108 lần rồi thồi vào phù .
Nếu được in chú Om AH HUm rồi dán ở mặt sau :

Chú OM MA NI PAD ME HUM

6 chữ lục tự đại minh chú của đức Quan Thế Âm , có tác dụng đem lại may mắn , trừ tà , hộ thân , hoặc có thể dùng để thờ phượng
in lớn , dùng để treo xe hơn hay treo nơi bàn thờ Phật .

Sau khi sử dụng , cố gắng làm việc thiện tích đức , tu trì niệm phật . Tác dụng của phù càng lớn mạnh hơn !!!

Nam mo guru

Phật Tử Tiếng Anh Là Gì – 30 Từ Vựng Tiếng Anh Phật Giáo

0

Bài viết này sẽ cung cấp cho bạn những từ vựng tiếng anh phổ biến trong Phật học và hỗ trợ bạn tìm đọc những tài liệu được viết bằng tiếng Anh.

Concepts

  • Buddhism /ˈbudɪzəm/
    Phật giáo/đạo Phật
  • The Buddha /ˈbudə/
    Đức Phật/ người đã giác ngộ
  • Amitabha Buddha
    Đức Phật A Di Đà
  • Medicine Buddha
    Đức Phật Dược Sư
  • Bodhisattva /ˌboʊdɪˈsʌtvə/: a person who is able to reach nirvana but who delays doing this because of the suffering of other humans
    Bồ tát: người có thể đạt đến Niết bàn (trạng thái hạnh phúc, bình yên) nhưng trì hoãn việc nhập Niết bàn vì những người khác vẫn còn chịu đau khổ
  • Avalokiteśvara Bodhisattva
    Quan Thế Âm Bồ tát
  • a Buddhist/monk/temple
    một Phật tử/một nhà tu hành/một ngôi đền Phật giáo
  • Three Jewels
    Tam Bảo (Phật-Pháp-Tăng)
  • Take Refuge in the Three Jewels
    Quy Y Tam Bảo
  • The Four Noble Truths
    Tứ diệu đế
  • Noble Eightfold Path
    Bát chánh đạo
  • Middle Way
    Trung Đạo
  • Pure Land Buddhism
    Tịnh Độ Tông
  • Zen Buddhism
    Thiền Tông
  • Zen Master
    Thiền Sư
  • Dharma /ˈdɑrmə/: truth or law that affects the whole universe
    Giáo pháp: những sự thật, quy luật chi phối cả vũ trụ
  • Dharma Master
    Pháp Sư/ Người giảng pháp
  • Dharma Talks
    Thuyết pháp
  • Sangha
    Giáo hội Tăng-già
  • Greed/Hatred/Ignorance /ɡrid/ /ˈheɪtrəd/ /ˈɪɡnərəns/
    Tham/Sân/Si
  • Sutra /ˈsutrə/
    Kinh điển
  • Mantra /ˈmɑntrə/
    Thần chú
  • Great Compassion Mantra
    Thần chú Đại Bi
  • Vegetarian /ˌvɛdʒəˈtɛriən/
    Người ăn chay
  • good/bad karma /ˈkɑrmə/
    Some vegetarians believe that eating meat is bad karma.

    Một số người ăn chay tin rằng ăn thịt sẽ tạo nên ác nghiệp

  • rebirth /ˌriˈbərθ/
    tái sinh
  • Nirvana /nɪrˈvɑnə/: the state of peace and happiness that a person achieves after giving up all personal desires
    Niết bàn: trạng thái yên bình và hạnh phúc mà một người có được sau khi đã từ bỏ tất cả những ham muốn cá nhân
  • Emptiness /ˈɛmptinəs/
    tính Không
  • Ego /ˈiɡoʊ/
    Bản ngã

Kinh Cầu Bình An Cho Thai Nhi – Lời Đồn Và Sự Thật ??

0

Tụng kinh giúp an thai ??

Chị Huệ, pháp danh Diệu Ân, nhà ở Biên Hòa, Đồng Nai đã kể cho tôi nghe câu chuyện nhiệm mầu Phật pháp của bạn chị như thế này:

Vợ chồng Liên là bạn thân của Diệu Ân, theo đạo Công giáo, họ đã có một bé trai. Ngày nọ, Liên thấy mình càng ngày mập ra, vòng bụng cứ to dần lên, đầu óc bần thần hay choáng. Liên đi khám bệnh thì bác sĩ cho uống thuốc tâm thần. Tình hình vẫn không thuyên giảm nên có một hôm không chịu nổi nữa cô lên bệnh viện tỉnh để kiểm tra tổng quát.

Vì Liên hay buồn nôn nên bác sĩ cho là bộ tiêu hóa cô có vấn đề. Ông cẩn thận kiểm tra, chẩn khám rất kỹ, cuối cùng phát hiện ra Liên đã có thai bốn tháng.

Nghe kể đến đây tôi không kềm được đã ngạc nhiên hỏi lại:

– Lạ vậy, Liên đã từng sinh con, lẽ nào bản thân có thai mà lại không biết?

Diệu Ân cười đáp:

– Vậy mới có chuyện đáng nói! Bởi vì chu kỳ phụ nữ của Liên vẫn xảy ra đều đặn hàng tháng nên Liên không hề nghĩ rằng mình có thai. Khi phát hiện ra thì thai nhi đã được bốn tháng rồi, không thể phá. Nhưng do ảnh hưởng của thuốc an thần Liên đã dùng trong đợt điều trị vừa rồi nên đã ảnh hưởng đến não của thai nhi, khiến cho em bé bị dị tật, không bình thường.

Liên rất lo lắng, nhất là khi đi siêu âm, bác sĩ quả quyết chắc chắn đứa bé sinh ra sẽ bị dị dạng. Cô buồn lắm, quyết định sẽ bỏ thai. Cô nói với Diệu Ân:

– Nhà em kinh tế đã không khá, sinh thêm một đứa nữa lấy gì mà nuôi? Đã vậy đứa bé còn mang dị tật, có khả năng bị liệt rất là cao. Làm sao em dám giữ em bé lại chứ?

Diệu Ân vốn là một Phật tử thuần thành, có niềm tin rất sâu với Phật pháp, nên đã trấn an bạn:

– Em cứ niệm danh hiệu Bồ-tát Quán Thế Âm và lễ bái Đức Phật Dược Sư cầu cho bé đi. Bồ-tát Quán Âm rất linh, còn Phật Dược Sư vốn từ bi, có đại nguyện chữa lành bệnh cho chúng sinh. Không những vậy, ai chịu tụng niệm, lễ bái Ngài thì đời sau sẽ có dung nhan xinh đẹp. Em cứ làm như lời chị khuyên đi, an tâm sẽ sinh con ra bình thường. Nếu em đã làm y như lời chị dặn mà cháu bé sinh ra bị dị tật, chị hứa sẽ nuôi dùm cho em!

Nghe vậy Liên yên lòng. Anh chồng đạo Công giáo, nhưng thấy tình trạng thai nhi như vậy đành để vợ tùy ý thực hiện theo lời của Diệu Ân khuyên thử.

Thế là suốt năm tháng ròng rã, Liên ngày đêm khẩn thiết niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ-tát và lễ sám Phật Dược Sư.

Kết quả tới ngày khai hoa nở nhụy, một bé trai khôi ngô tuấn tú chào đời. Chẳng những dung mạo xinh đẹp, mà mỗi ngày một lớn, bé rất thông minh, vượt xa hẳn anh mình về sắc vóc lẫn trí tuệ.

Chồng Liên sau biến cố này, anh liền đi thỉnh tượng Phật Dược Sư về thờ. Còn Liên thì luôn bảo với thằng bé:

– Này con, con phải biết ơn má Huệ, nhờ có má Huệ mà con mới được sinh ra đó nhé!

Hạnh Đoan

Khoa Học Lý Giải

LTS: Lẽ ra thai nhi lần này chính thực là oan gia oán cừu, quyết lòng tới đòi nợ hai vợ chồng cô Liên (bởi vì cô Liên đến chu kỳ phụ nữ vẫn bình thường nên thụ thai mà không biết). Cũng chính nhờ người bạn Diệu Ân khuyên niệm Quan Âm, lạy Phật sám hối giúp tiêu nghiệp, hóa giải oan gia giữa đứa bé và hai vợ chồng cô Liên. Việc này rất nhiệm mầu chỉ có những người trong cuộc đã từng trải qua mới cảm nhận được sâu sắc. Có người thai nhi bị phán “bệnh Down”… cũng nhờ ăn chay, niệm Phật, sám hối hồi hướng cho thai nhi, kết quả sinh ra em bé vô cùng xinh xắn, khỏe mạnh. Quả là chỉ có sám hối, ăn chay, niệm Phật, lạy Phật mới giúp giải trừ nghiệp chướng giữa cha mẹ và thai nhi mà thôi. Bài học cần ghi nhớ!

Tiểu Sử Phật Quan Thế Âm Bồ Tát

0

Hầu hết người Việt Nam đều ngưỡng mộ Đức Quán Âm Bồ-tát. Trong các chùa ở thành thị cũng như thôn quê ở đâu cũng có tôn thờ hình tượng của Ngài, người ta còn thờ riêng ở nhà nữa. Nhiều người chưa biết gì nhiều giáo lý của đạo Phật, nhưng họ vẫn kính mộ Đức Quán Thế Âm Bồ-tát một cách thuần thành.

Nguồn gốc

Trong những truyện cổ tích, người Việt Nam thường kính cẩn nhắc nhở đến danh hiệu Quán Thế Âm Bồ-tát mà coi Ngài là một vị Bồ-tát luôn luôn sẳn sàng cứu khổ nạn cho họ. Ngay trong những vở tuồng cải lương, kịch nói, dĩa hát, phim ảnh, và hệ thống internet đều có hình ảnh và tiếng nói của Bồ-tát. Lòng tín ngưỡng Quán Thế Âm Bồ-tát của dân tộc Việt Nam quả thật rất sâu sắc. Để cho lòng tin ấy được vững bền và phát triển, xin quý vị hiểu qua một vài nét lịch sữ và những quan điểm có liên hệ đến Ngài sau đây:

Tiếng Phạn là A-va-lô-ki-tết-va-ra (Avalokitecvara). Tàu dịch là Quán Thế Âm, nghĩa là quán xét tiếng tâm đau khổ của đời để cứu độ. Tiếng Phạn là Bô-đi-sa-ta (Bodhisat). Tàu dịch là Bồ-tát. Bồ Tát là một danh từ chỉ cho những vị phát tâm rộng lớn cầu sự giác ngộ như chư Phật và giáo hóa chúng sanh . Kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni chép: Trong vô lượng kiếp về quá khứ, Đức Quán Thế Âm đã thành Phật hiệu là Chánh Pháp Minh Như-Lai. Vì nguyện lực đại bi nên hiện thân Bồ-tát để độ chúng sanh. Kinh Quán Âm Tam Muội, đức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng có nói Quán Thế Âm Bồ-tát là một vị cổ Phật ấy. Kinh Bi Hoa chép trong thời quá khứ Bồ-tát Quán Thế Âm là thái tử con vua Vô Tránh Niệm. Đồng thời có đức Bảo Tạng Như-Lai ra đời giáo hoá chúng sanh. Thấu triệt giáo lý do đức Phật ấy truyền dạy, vua phát tâm cầu đạo và giáo hóa chúng sanh. Nhà vua cúng dường đức Phật luôn trong ba tháng và tinh tấn tu hành; thái-tử cũng vậy. Khi công hạnh vẹn toàn, vua thành Phật hiệu là A-Di-Đà ở tây phương cực lạc. Thái-tử cũng sanh về thế giới ấy và thành Bồ-tát hiệu Quán Thế Âm để trợ giúp Phật A-Di-Đà tiếp dẫn chúng sanh.

Theo kinh Lăng Nghiêm

Trong kinh Lăng Nghiêm, Bồ-tát có thuật lại phương pháp tu hành của Ngài là do nghe, suy nghĩ, và tu tập mà nhập chánh định. Bắt đầu Ngài tu từ sự nghe. Trong một cái nghe mà trước tiên là phải quán triệt tiền trần rồi bỏ luôn quán trí và cuối cùng diệt hết đế lý. Ngài chuyển dụng khả năng nghe tiếng bên ngoài mà nghe lại tự tánh nghe của mình. Đến lúc những cái sinh diệt diệt hết thì tánh vắng lặng hiện ra và khi ấy chứng được “nhĩ căn viên thông,” được hai thứ thù thắng: một là đồng với từ lực của mười phương chư Phật, hai là cảm thông lòng cầu mong thương cứu của chúng sanh trong sáu đường.

Pháp môn của Bồ Tát Quán Thế Âm chính là phương pháp phản văn văn tự tánh (không xuôi dòng đuổi theo âm thanh mà trở ngược lại tánh nghe) tức là từ cái nghe để trở về tự tánh của mình. Trong pháp tu này, hành giả tuyệt đối không dùng tai để nghe. Nếu còn dùng tai để nghe là chạy theo âm thanh sắc tướng.

Hoà thượng Thích Thiện Hoa khi giải thích về phương pháp tu của ngài Bồ Tát Quán Thế Âm đã cho biết: (1) Bắt đầu từ khi cái nghe đối với thanh trần không khởi phân biệt theo thanh trần, nên thanh trần tự vắng lặng; xong còn cái nghe. (2) Đến giai đoạn thứ hai là cái nghe (năng, sở) cũng hết, xong còn cái hết. (3) Đến tầng thứ ba không chấp ở nơi hết, xong còn cái biết hết. (4) Đến tầng thứ tư là cái biết đó cũng không, xong còn cái không. (5) Nên đến tầng thứ năm là cái không đó cũng không còn. Lúc bấy giờ các cái vọng niệm phân biệt chấp trước đều hết, thì chân tâm thanh tịnh tự hiện bầy; cũng như các cặn đục đã hết, thì tánh nước trong tự hiện. Mười phương các đức Phật hay các vị Đại Bồ Tát tu hành, chỉ có một con đường duy nhất là trừ hết vọng thì chân hiện bầy, như lau gương sạch bụi, thì ánh sáng tự hiện, thế gọi là thành Phật, hay là chứng Đại Niết Bàn.

Tóm lại, chúng ta chỉ tìm thấy một vài điểm lịch sử của đức Quán Thế Âm Bồ-tát qua những đoạn văn trong các khế kinh do đức Phật Thích Ca Mâu Ni chỉ dạy. Và Pháp môn tu hành của Ngài là “dùng nhỉ căn quán chiếu thanh tịnh,” khi căn trần thanh tịnh thì chứng được viên thông. Ấy là pháp môn có tác dụng đặc biệt với chúng sanh trong cảnh giới Ta-bà này.

Kinh Pháp-Hoa phẩm Phổ-Môn đức Phật giải thích, nếu có vô lượng trăm nghìn vạn ức chúng sanh bị các khổ não, nghe danh hiệu của Bồ-tát này liền nhứt tâm xưng danh của Bồ-tát, thì tức thời Bồ-tát nghe tiếng kêu cầu rồi làm cho tất cả đều được giải thoát. Vì thế nên gọi là Quán Thế Âm.

Quán Thế Âm Bồ-tát là một vị thánh nhân có diệu dụng đặc biệt là quán xét và nghe thấu tất cả tiếng đau khổ rồi từ bi giáo hoá cứu độ đưa chúng sanh đến nơi an vui giải thoát, cho nên cũng gọi là Tầm Thanh Cứu Khổ Nạn Đại-Từ Đại-Bi Linh Cảm Ứng Quán Thế Âm Bồ-tát. Cũng có tên là Quán Tự Tại Bồ-tát, nghĩa là vị Bồ-tát dùng trí huệ Bát-nhã quán sát sự vật đúng như chân lý một cách tự tại và thoát ra ngoài các tai ách khổ nạn.

Trong tất cả các danh hiệu chư Phật và chư Bồ-tát, danh hiệu của Ngài là được chúng sanh trì niệm nhiều – Nhất là gặp những lúc điên đảo đau khổ đầy đao binh và tai nạn. Trong kinh Pháp Hoa phẩm Phổ Môn, đức Phật so sánh phước đức của người thọ trì sáu mươi hai ức hằng hà sa số danh hiệu của các vị Bồ-tát khác thì trì niệm danh hiệu của Ngài là phước đức hơn hết.

Vã lại, chúng ta thường thấy sự thờ phụng Ngài bằng đất và vẽ tượng Ngài với hình dáng phụ nữ để tượng trưng cho lòng thương không bờ bến của Ngài là bà Mẹ hiền trong tất cả các bà mẹ hiền.

Nhành dương liễu và bình cam lồ là tượng trưng cho lòng từ bi trí giác ngộ của Ngài rưới tắt và làm diệu mất bao nỗi đau khổ, bao điều phiền não đang bừng cháy trong long chúng sanh. Hình vẽ Bồ-tát ngự trên hoa sen trắng trong biển động ba đào cho chúng ta biết rằng: mặc dù trong cõi đời dạt dào sóng gió đau khổ tai nạn chúng sanh đang hụp lặn nổi trôi; Bồ-tát Người của chân lý ngát hương thơm của hoa đạo, quyết đưa họ về với cuộc sống dịu hòa của chân lý.

Một hình tượng khác Ngài lại ngồi nhập định trong núi Phổ Đà, nhưng đồng thời vẫn thuyết pháp độ sanh, nói được ý hằng tùy duyên hóa độ chúng sanh, nhưng Ngài vẫn an trú nơi đạo tràng thanh tịnh. Bên cạnh có tượng Long Nữ và Thiện Tài tượng trưng cho phạm hạnh đồng chơn của Bồ-tát; tuy ở trong bùn lầy ô trược trần gian đen tối, nhưng Bồ-tát vẫn hồn nhiên vui sống trong cảnh giới thanh tịnh của đạo mầu trong trắng.

Quán Thế Âm Bồ Tát Ở Việt Nam

Ở một vài nơi như chùa Linh Sơn tại Sài-Gòn, chùa Bút Tháp ở Hà Nội, có thờ tượng Ngài đủ cả ngàn tay ngàn mắt. Tay là tượng trưng cho từ-bi, do từ-bi mà phát xuất vô lượng phương tiện để cứu độ chúng sanh. Mắt là tượng trưng cho trí tuệ, trí tuệ sáng suốt ngộ nhập chân lý và quán xét căn cơ của muôn loài để đưa họ về nơi bến giác.

Những hình tượng trên đều nói được ý sáng tươi cao đẹp của Ngài và của chân lý, nên người ta thờ khắp nơi khắp chốn. Người ta còn đeo tượng Ngài ngay trên thân thể để được sống nhiều trong ảnh hưởng từ-bi và sự che chở mầu nhiệm trong bàn tay giáo hóa của Ngài.

Kinh Pháp Hoa phẩm Phổ Môn đức Phật Thích Ca Mâu Ni có dạy rằng: Quán Âm Bồ-tát có những hạnh nguyện rất vĩ đại, Ngài dùng oai thần diệu dụng hoá hiện vô số thân trong mọi loài để cứu độ; đáng dùng thân Phật để cứu độ, Ngài hiện thân Phật; cho đến đáng dung thân đồng-nam đồng -nữ để cứu độ, Ngài hiện thân đồng-nam đồng-nữ để hoá độ, đáng dung thân gì Ngài hiện thân ấy. Ngài hiện đủ ba mươi hai loại thân và hoá thân nhiều nhất của Ngài là hoá thân phụ-nữ.

Có nhiều người thắc mắc không hiểu Quán Thế Âm Bồ-tát là đàn ông hay đàn bà? Nơi đây chúng ta thấy Ngài hiện vô số thân chớ không phải chỉ đàn ông hay đàn bà. Ngài dùng tất cả phương tiện để làm cho các chúng sanh khỏi khổ nạn tai ách, diệt trừ tham-sân-si đưa chúng sanh đến chỗ giác ngộ và giải thoát hoàn toàn. Nhất là Ngài thường ban bố đức vô-úy, hùng lực không sợ sệt trước tai nạn bất ngờ cho những chúng sanh hèn yếu.

Trong khế kinh và trên sự thật cho chúng ta biết Quán Thế Âm Bồ-tát là một vị Bồ-tát có rất nhiều nhân duyên với chúng sanh trong cõi Ta-bà này. Ngài lại đủ oai-thần và phương tiện để cứu khổ ban vui cho muôn loài. Nhưng có thừa hưởng được ân huệ của Ngài hay không, một phần lớn là do nơi chúng ta định đoạt, vì ngoài việc trì niệm danh hiệu, lễ bái cúng dường Ngài, bằng cách chúng ta hãy cố gắng thực hành theo hạnh từ-bi của Ngài, để làm vơi cạn bao nỗi khổ đau, bao điều sầu não cho mình và cho người trong hiện tại và tương lai.

Điều mà chúng ta cần hiểu rõ thêm là khi chúng ta chuyên tâm niệm danh hiệu của Bồ-tát thì bao nhiêu ý niệm xấu xa của chúng ta đều lắng xuống; tất nhiên mọi đức tánh tốt sẽ phơi bày; hạnh từ-bi trí tuệ gì cũng đều do đó mà phát sinh ra. Như thế chúng ta không phải ỹ lại nơi thần quyền, để mong được an vui hạnh phúc mà bằng mọi nỗ lực của cá nhân, chúng ta tự tu tự hành; giữ cho tâm mình thanh tịnh thì mới mong hiệp được sức gia hộ của Bồ-tát.

Nam-mô Đại-từ Đại-bi Quán-Thế-Âm Bồ-tát.

Nghi Thức Tụng Chú Lăng Nghiêm – 3 Điều Phải Biết

0

Nghi Thức

KỆ TÁN PHẬT

Đấng Pháp vương vô thượng
Ba cõi chẳng ai bằng
Thầy dạy khắp trời người
Cha lành chung bốn loài
Quy y tròn một niệm
Dứt sạch nghiệp ba kỳ
Xưng dương cùng tán thán
Ức kiếp không cùng tận.

QUÁN TƯỞNG

Phật, chúng sinh tánh thường rỗng lặng
Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn
Lưới đế châu ví đạo tràng
Mười phương Phật bảo hào quang sáng ngời.
Trước bảo tọa thân con ảnh hiện
Cúi đầu xin thệ nguyện quy y.

LỄ PHẬT

Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không biến pháp giới quá, hiện, vị lai Thập phương chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo (1 lạy).

Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta-bà giáo chủ điều ngự Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, Đương lai hạ sinh Di-lặc tôn Phật, Đại trí Văn-thù Sư-lợi Bồ-tát, Đại hạnh Phổ Hiền Bồ-tát, Hộ pháp chư tôn Bồ-tát, Linh Sơn hội thượng Phật Bồ-tát (1 lạy).

Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây Phương Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A-di-đà Phật, Đại bi Quán Thế Âm Bồ-tát, Đại Thế Chí Bồ-tát, Đại nguyện Địa Tạng Vương Bồ-tát, Thanh tịnh đại hải chúng Bồ-tát (1 lạy).
*
Lư hương xạ nhiệt
Pháp giới mông huân
Chư Phật hải hội tất diêu văn
Tùy xứ kiết tường vân
Thành ý phương ân
Chư Phật hiện toàn thân
Nam mô Hương Vân Cái Bồ-tát Ma-ha-tát (3 lần).
*
Nam mô Lăng-nghiêm Hội Thượng Phật Bồ-tát (3 lần).
Diệu trạm tổng trì bất động tôn
Thủ Lăng-nghiêm vương thế hy hữu
Tiêu ngã ức kiếp điên đảo tưởng
Bất lịch Tăng-kỳ hoạch pháp thân.
Nguyện kim đắc quả thành Bảo Vương
Hoàn độ như thị hằng sa chúng
Tương thử thâm tâm phụng trần sát
Thị tắc danh vi báo Phật ân.
Phục thỉnh Thế Tôn vị chứng minh
Ngũ trược ác thế thệ tiên nhập
Như nhất chúng sinh vị thành Phật
Chung bất ư thử thủ Nê-hoàn.
Đại hùng Đại lực Đại từ bi
Hy cánh thẩm trừ vi tế hoặc
Linh ngã tảo đăng Vô thượng giác
Ư thập phương giới tọa đạo tràng
Thuấn-nhã-đa tánh khả tiêu vong
Thước-ca-ra tâm vô động chuyển.
Nam mô Thường Trụ Thập phương Phật
Nam mô Thường Trụ Thập phương Pháp
Nam mô Thường Trụ Thập phương Tăng
Nam mô Thích-ca Mâu-ni Phật.
Nam mô Phật Đảnh Thủ Lăng-nghiêm
Nam mô Quán Thế Âm Bồ-tát
Nam mô Kim Cang Tạng Bồ-tát.

Nhĩ thời Thế Tôn, tùng nhục kế trung, dõng bá bảo quang, quang trung dõng xuất, thiên diệp bảo liên, hựu hóa Như Lai, tọa bảo hoa trung, đảnh phóng thập đạo, bá bảo quang minh, nhất nhất quang minh, giai biến thị hiện, thập hằng hà sa, kim cang mật tích, kình sơn trì sử, biến hư không giới, đại chúng ngưỡng quan, úy ái kiêm bảo, cầu Phật ai hựu, nhất tâm thính Phật, Vô Kiến Đảnh tướng, phóng quang Như Lai, tuyên thuyết thần chú.

Các Ngày Vía Phật Và Bồ Tát Mà Quý Phật Tử Phải Thuộc Lòng

0

Ngày 1 Tháng 1 âm lịch – Vía Đức Di Lặc (Celebration of Happy Buddha)

Ngày 8 Tháng 2 âm lịch – Vía Phật Thích Ca xuất gia (Celebration of Sakyamuni Buddha’s Leaving Home to become a monk)

Ngày 15 Tháng 2 âm lịch – Vía Phật Thích Ca nhập diệt (Celebration of Sakyamuni Buddha’s Nirvàna)

Ngày 19 Tháng 2 âm lịch – Vía Đức Quán Thế Âm (ngày đảng sanh) (Celebration of Gwan Yin Bodhisattva’s Birthday)

Ngày 21 Tháng 2 âm lịch – Vía Đức Phổ Hiền Bồ Tát (Celebration of Universal Worthy Bodhisattva)

Ngày 16 Tháng 3 âm lịch – Vía Đức Chuẩn Đề Bồ Tát (Celebration of Cundi Bodhisattva)

Ngày 4 Tháng 4 âm lịch – Vía Đức Văn Thù Bồ Tát (Celebration of Manjusri Bodhisattva)

Ngày 15 Tháng 4 âm lịch – Vía Phật Thích Ca giáng sanh (Celebration of Shakyamuni Buddha’s Birthday)

Ngày 19 Tháng 6 âm lịch – Vía Đức Quán Thế Âm (thành đạo) (Celebration of Gwan Yin Bodhisattva’s Enlightenment)

Ngày 13 Tháng 7 âm lịch – Vía Đức Đại Thế Chí Bồ Tát (Celebration of Great Strength Bodhisattva)

Ngày 15 Tháng 7 âm lịch – Lễ Vu Lan Bồn (Celebration of Ullambana)

Ngày 30 Tháng 7 âm lịch – Vía Đức Địa Tạng Bồ Tát (Celebration of Earth Store Bodhisattva)

Ngày 19 Tháng 9 âm lịch – Vía Đức Quán Thế Âm (xuất gia) (Celebration of Gwan Yin Bodhisattva’s Leaving Home)

Ngày 30 Tháng 9 âm lịch – Vía Phật Dược Sư (Celebration of Medicine Master Buddha)

Ngày 17 Tháng 11 âm lịch – Vía Phật A Di Đà (Celebration of Amitabha Buddha’s Birthday)

Ngày 8 Tháng 12 âm lịch – Vía Phật Thích Ca thành đạo (Celebration of Shakyamuni Buddha’s Enlightenment)

Tháng Giêng
Ngày mồng một, vía đức Phật Di Lặc

Tháng Hai
Ngày mồng tám, vía đức Phật Thích ca xuất gia

Ngày rằm,vía đức Phật Thích ca nhập diệt

Ngày 19,vía đức Quán thế âm Bồ tát

Ngày 21,vía đức Phổ hiền Bồ tát

Tháng Ba
Ngày 19,vía đức Chuẩn đề Bồ tát

Tháng Tư
Ngày mồng bốn,vía đức Văn thù Bồ tát

Ngày rằm,vía đức Thích ca giáng sinh

Tháng Sáu
Ngày 19,vía đức Quán thế âm Bồ tát

Tháng Bảy 
Ngày 13,vía đức Đại thế chí Bồ tát

Ngày rằm, lễ Vu lan bồn

Ngày 30,vía đức Địa Tạng Bồ tát

Tháng Chín 
Ngày 19,vía đức Quán thế âm Bồ tát

Ngày 30, vía đức Phật Dược Sư

Tháng Mười một 
Ngày 17, vía đức Phật A di đà

Tháng Chạp 
Ngày mồng tám,vía đức Thích ca thành đạo

Ngày 1 Tháng 1 âm lịch – Vía Đức Di Lặc (Celebration of Happy Buddha)

Picture

Đức Di Lặc

Di-lặc hay Di Lặc (zh. 彌勒, sa. maitreya, pi. metteyya là cách phiên âm, dịch nghĩa là Từ Thị (慈氏), “người có lòng từ”, cũng có tên khác là Vô Năng Thắng (zh. 無能勝, sa. ajita), phiên âm Hán-Việt là A-dật-đa, là một vị Bồ Tát và cũng là vị Phật cuối cùng sẽ xuất hiện trên trái Đất. Trong Phật giáo Tây Tạng, Bồ Tát Di-lặc được thờ cúng rất rộng rãi. Cõi giáo hóa của Bồ Tát hiện nay là trời Đâu-suất (sa. tuṣita). Theo kinh điển, Bồ Tát Di-lặc sẽ giáng sinh trong khoảng 30.000 năm nữa.

Trong tranh hay tượng, Di-lặc ngồi trên mặt đất, biểu tượng sẵn sàng đứng dậy đi giáo hóa chúng sinh. Tại Trung Quốc, Bồ Tát Di-lặc cũng hay được trình bày với tướng mập tròn vui vẻ, trẻ con quấn quít xung quanh. Người ta tin rằng đó chính là hình ảnh của Bố Đại Hòa thượng, một hóa thân của Di-lặc ở thế kỉ thứ 10. Nếu năm đức Phật xuất hiện trên trái đất nói trên được xem là hóa thân của Ngũ Phật thì Bồ Tát Di-lặc được xem như hóa thân của Thành sở tác trí (xem Phật gia, Ngũ trí).

Có thuyết cho rằng, chính Bồ Tát Di-lặc là người khởi xướng hệ phái Duy thức của Đại thừa. Một số học giả cho rằng, vị này chính là Maitreyanatha (sa. maitreyanātha), thầy truyền giáo lí Duy thức cho Vô Trước (sa. asaṅga). Truyền thống Phật giáo Tây Tạng cho rằng, Ngài là tác giả của năm bài luận, được gọi là Di Lặc (Từ Thị) ngũ luận:

  1. Đại thừa tối thượng luận hoặc Cứu cánh nhất thừa bảo tính luận(sa.mahāyānottaratantra)
  2. Pháp pháp tính phân biệt luận(sa.dharmadharmatāvibaṅga)
  3. Trung biên phân biệt luận(sa.madhyāntavibhāga-śāstra)
  4. Hiện quán trang nghiêm luận(sa.abhisamayālaṅkāra)
  5. Đại thừa kinh trang nghiêm luận(sa.mahāyānasūtralaṅkāra)


Ngày 8 Tháng 2 âm lịch – Vía Phật Thích Ca xuất gia (Celebration of Sakyamuni Buddha’s Leaving Home to become a monk)

Picture

Phật Thích Ca xuất gia


Ngày 15 Tháng 2 âm lịch – Vía Phật Thích Ca nhập diệt (Celebration of Sakyamuni Buddha’s Nirvàna)

Picture

Phật Thích Ca nhập diệt


Ngày 19 Tháng 2 âm lịch – Vía Đức Quán Thế Âm (ngày đảng sanh) (Celebration of Gwan Yin Bodhisattva’s Birthday)

Picture

Đức Quán Thế Âm Bồ Tát

Quan Âm (zh. 觀音, ja. kannon), nguyên là Quán Thế Âm nhưng do tránh chữ Thế trong tên nhà vua Đường là Lý Thế Dân nên gọi là Quan Âm hoặc Quán Âm, là tên của Bồ Tát Quán Thế Âm (zh. 觀世音, sa. avalokiteśvara) tại Trung Quốc, Việt Nam và các nước lân cận. Phật tử Trung Quốc thường thờ cúng Quan Âm bên cạnh các vị Bồ Tát Phổ Hiền (zh. 普賢, sa. samantabhadra), Địa Tạng (zh. 地藏, sa. kṣitigarbha) và Văn-thù-sư-lợi (zh. 文殊師利, sa. mañjuśrī). Đó là bốn vị Đại Bồ Tát của Phật giáo Trung Quốc.

Quan Âm hiện thân trong mọi hình dạng để cứu độ chúng sinh, nhất là trong các nạn lửa, nước, quỷ dữ và đao kiếm. Phụ nữ không con cũng hay cầu Quan Âm. Quan Âm cũng hay được nhắc tới bên cạnh Phật A-di-đà (sa. amitābha) và trong kinh Diệu pháp liên hoa, phẩm 25 với tên Phổ môn, các công hạnh của Bồ Tát trình bày rõ ràng và tán thán. Tại Trung Quốc và Việt Nam, Quan Âm hay được diễn tả dưới dạng nữ nhân.

Trong thần thoại, văn học bác học (như tác phẩm Tây Du Ký của Trung Quốc), văn học dân gian, hay trong kinh sách nhà Phật (ví dụ phẩm Phổ môn), thì Quán Thế Âm Bồ Tát được xem là vị Bố Tát có thần lực nhất, chỉ sau Phật Tổ. Điều này có thể là do Quán Âm là vị Bồ Tát cứu độ chúng sanh và là Bồ Tát đặc trưng cho tinh thần của Phật giáo Đại thừa – giác tha, có nghĩa là cứu vớt và giác ngộ người khác – cho nên có thể Phật giáo Đại thừa đã nâng ngài lên tầm quan trọng như vậy, khác biệt với Phật giáo Tiểu thừa. Điều này càng làm tăng lòng sùng kính của người theo đạo Phật đối với Quán Âm. Trong mọi ngôi chùa, thường thì chính giữa là tượng đức Phật Tổ, hai bên là tượng Quán Thế Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát, tuy nhiên ở ngoài khuôn viên chùa hầu hết đều có tượng đức Phật Tổ hay Quán Thế Âm mà không thấy hoặc ít thấy hơn tượng của các vị Phật hay Bồ Tát khác.

Tranh tượng thường trình bày Quan Âm dưới nhiều dạng khác nhau, nhưng phổ biến nhất là dạng một vị Bồ Tát nghìn tay nghìn mắt. Có khi Quan Âm ẵm trên tay một đứa bé, có khi một đồng tử theo hầu. Người ta cũng hay vẽ Quan Âm hiện trong mây, hoặc cưỡi rồng trên thác nước. Hình ảnh Quan Âm đứng trên một hải đảo cứu người bị nạn cũng phổ biến, biển cả tượng trưng cho Luân hồi. Tay Quan Âm thường cầm hoa hoa sen hay bình nước Cam lồ.

Danh xưng Quán Thế Âm là xuất phát từ một truyền thuyết của Phật giáo, tin rằng những người tu hành đạt tới chính quả, thì ngũ giác của họ có thể dùng chung được. Nghĩa là họ có thể dùng tai để “nhìn” thấy hình ảnh, dùng mắt để “nghe” thấy âm thanh, lưỡi có thể ngửi được v.v. Theo lòng tin này, thì danh xưng Quán Thế Âm Bồ Tát có nghĩa là: vị Bồ Tát luôn “nhìn thấy” tiếng ai oán, đau khổ trong bến mê của chúng sinh và sẵn sàng cứu giúp hay nói pháp khi cần.

Theo quan niệm Trung Quốc, Quan Âm ngự tại Phổ-đà Sơn, miền Đông Trung Quốc, đó là một trong Tứ đại danh sơn, là bốn trú xứ của bốn Đại Bồ Tát của Phật giáo Trung Quốc.

Tại Trung Quốc – đến thế kỉ 10 – Quan Âm còn được giữ dưới dạng nam giới, thậm chí trong hang động ở Đôn Hoàng, người ta thấy tượng Quan Âm để râu. Đến khoảng thế kỉ thứ 10 thì Quan Âm được vẽ mặc áo trắng, có dạng nữ nhân. Có lẽ điều này xuất phát từ sự trộn lẫn giữa đạo Phật và đạo Lão trong thời này. Một cách giải thích khác là ảnh hưởng của Mật tông (xem Tantra) trong thời kì này: đó là hai yếu tố Từ bi (sa. maitrī-karuṇā) và Trí huệ (sa. prajñā) được thể hiện thành hai dạng nam nữ, mỗi vị Phật hay Bồ Tát trong Mật tông đều có một “quyến thuộc” nữ nhân. Vị quyến thuộc của Quán Thế Âm được xem là vị nữ thần áo trắng Đa-la (sa. tārā), và Bạch Y Quan Âm là tên dịch nghĩa của danh từ đó. Kể từ đó quần chúng Phật tử Trung Quốc khoác cho Quan Âm áo trắng và xem như là vị Bồ Tát giúp phụ nữ hiếm muộn.

Một trong các lí do đó là đối với Phật Giáo, Phật không phân biệt nam hay nữ. Khác với các thần thoại sơ khai quan niệm các vị thần có giới tính và co sự sinh sản, Phật giáo và các tôn giáo lớn trên thế giới không cho rằng thần của họ có giới tính và sự sinh sản. Do đó việc quan niệm Quán Âm là nam hay nữ không phải là vấn đề quan trọng trong Phật giáo. Vả lại, theo phẩm Phổ môn, khi muốn cứu vớt hoặc giác ngộ cho chúng sinh, Quán Âm có thể hóa thành 32 sắc tướng[1] như Phật, Bồ Tát, Càn-thát-bà, thiện nam, tín nữ v.v tùy theo đối tượng để cứu giúp chúng sanh.

Có rất nhiều huyền thoại về Bồ Tát Quan Âm. Theo một huyền thoại Trung Quốc thì Quan Âm là con gái thứ ba của một nhà vua. Lớn lên, mặc dù vua cha ngăn cản nhưng công chúa quyết đi tu. Cuối cùng vua nổi giận, sai đem giết nàng. Diêm vương đưa nàng vào địa ngục, ở đó công chúa biến địa ngục thành Tịnh độ, cứu giúp người hoạn nạn. Diêm Vương thả nàng ra và công chúa tái sinh lại trên núi Phổ-đà biển Đông và trở thành người cứu độ cho ngư dân. Đến khi vua cha bị bệnh nặng, nàng cắt thịt đắp lên chỗ bệnh. Nhà vua khỏi bệnh và nhớ ơn, cho tạc tượng nàng. Tương truyền rằng, vì hiểu lầm ý của nhà vua mà người ta tạc nên bức tượng nghìn tay nghìn mắt, được lưu truyền đến ngày nay.

Tại Trung Quốc, các ngư dân thường cầu nguyện Quan Âm để được bình an trong các chuyến đi đánh cá. Vì thế có Quan Âm cũng có biệt hiệu “Quan Âm Nam Hải”.



Ngày 21 Tháng 2 âm lịch – Vía Đức Phổ Hiền Bồ Tát (Celebration of Universal Worthy Bodhisattva)

Picture

Đức Phổ Hiền Bồ Tát

Phổ Hiền Bồ tát (dịch âm là Tam mạn đà bạt đà la, hoặc Tam mạn đà bạt đà, zh. pǔxián 普賢, sa. samantabhadra, ja. fugen, bo. kun tu bzang po ཀུན་ཏུ་བཟང་པོ་).

Phổ là biến khắp, Hiền là Đẳng giác Bồ tát, Phổ Hiền là vị Bồ tát Đẳng giác có năng lực hiện thân khắp mười phương pháp giới, tùy mong cầu của chúng sanh mà hiện thân hóa độ. Ngài là một trong những vị Bồ Tát quan trọng trong Phật giáo Đại thừa. Theo kinh Pháp Hoa, Ngài là vị Bồ tát ở quốc độ của Phật Bảo Oai Đức Thượng Vương Như Lai, phía Đông cõi Ta Bà, nghe thế giới này thuyết kinh Pháp Hoa liền lãnh đạo năm trăm vị Đại Bồ tát đến nghe pháp và phát tâm hộ trì
Chánh pháp của Đức Phật Thích Ca. 

Phổ Hiền được xem là người hộ vệ của những ai tuyên giảng đạo pháp và đại diện cho “Bình đẳng tính trí” tức là trí huệ thấu hiểu cái nhất thể của sự đồng nhất và khác biệt. Bồ Tát Phổ Hiền hay được thờ chung với Phật Thích-ca và Bồ Tát Văn-thù-sư-lợi (sa. mañjuśrī). Bồ Tát cưỡi voi trắng sáu ngà, voi trắng tượng trưng cho trí huệ vượt chướng ngại, sáu ngà cho sự chiến thắng sáu giác quan. Trong hệ thống Ngũ Phật, Phổ Hiền được xem ở trong nhóm của Phật Đại Nhật (sa. vairocana). Biểu tượng của Phổ Hiền là ngọc như ý, hoa sen, có khi là trang sách ghi thần chú của Bồ Tát.

Tại Trung Quốc, Phổ Hiền được xem là một trong bốn Đại Bồ Tát, trú xứ của Phổ Hiền là núi Nga Mi, nơi Bồ Tát lưu trú sau khi cỡi voi trắng từ Ấn Độ sang Trung Quốc.

Trong Kim cương thừa, tên Phổ Hiền được sử dụng chỉ Bản Sơ Phật (sa. ādi-buddha), hiện thân của Pháp thân (sa. dharmakāya, xem Tam thân). Phổ Hiền này (không phải vị Đại Bồ Tát) được vẽ với màu xanh đậm, tượng trung cho tính Không.

Tranh tượng cũng vẽ Phổ Hiền hợp nhất với nữ thần sắc trắng, tượng trưng cho sự nhất thể. Trong phép Đại thủ ấn (sa. mahāmudrā), thân của Phổ Hiền là Báo thân (sa. saṃbhogakāya) và đóng một vai trò trung tâm.



Ngày 16 Tháng 3 âm lịch – Vía Đức Chuẩn Đề Bồ Tát (Celebration of Cundi Bodhisattva)

Picture

Đức Chuẩn Đề Bồ Tát

Phật Mẫu Chuẩn Đề tên Phạn là Cundì, Cunïdïhi, tên Hán văn là Thất Câu Chi Phật Mẫu hay Thất Câu Đê Phật Mẫu, Chuẩn Đề Bồ Tát. Ngài là một trong lục quan âm của Phật Giáo, trong Tạng Giới Man Đa La ghi Chuẩn Đề là một trong 3 vị Phật Mẫu thuộc Biến Tri Viện.

Thân vị Bồ-tát nầy có màu vàng trắng hay màu vàng lợt, ngồi kiết gia trên đài sen, có hào quang tỏa sáng xung quanh, mình mặc thiên y, trên đầu trang điểm ngọc anh lạc. Đầu đội mão báu có ngọc lưu ly rũ treo, có 18 tay đều đeo vòng xuyến khảm Xà Cừ và mỗi tay đều cầm các loại khí cụ biểu thị cho các Tam Muội Gia, gồm có 3 mắt. Vị Bồ-tát nầy chuyên hộ trì Phật pháp và bảo hộ những chúng sinh có mạng sống ngắn ngủi được thọ mạng lâu dài. Pháp môn tu hành của vị Bồ-tát nầy là trì tụng bài chú: Nam mô tát đa nẫm, tam miệu tam bồ đà Câu chi nẫm, đát diệt tha: án, chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha.

Trong Kim Cương Giới thì Chuẩn Đề được nhận biết dưới danh hiệu Kim Cương Hộ Bồ Tát (Ràksïa Bodhisatva) là một trong 4 vị Bồ Tát thân cận của Đức Phật Thích Ca ở phương Bắc.

Thần chú phật mẫu: Nam mô tát đa nẫm tam miệu tam bồ đà câu chi nẫm đát điệt tha Úm, chiết lệ, chủ lệ, Chuẩn Đề ta bà ha.

Đức phật chỉ rõ: Nếu có tỳ khưu, tỳ khưu ni, ưu bà tắc, ưu bà di nào thọ trì đọc tụng thần chú này mãn 80 vạn biến thì những tội ngũ vô gián đã tạo từ vô lượng kiếp đến nay hết thảy đều được tiêu diệt. Sanh ra chỗ nào cũng gặp chư Phật và Bồ Tát, đời sống tư sanh tùy ý đầy đủ, đời đời thường được xuất gia, trì đủ luật nghi tịnh giới của Bồ Tát, thường sanh nhơn thiên, không đọa ác thú, thường được chư thiên thủ hộ. Nếu có những người tại gia nam nữ thường trì tụng, thì nhà kẻ ấy không có khổ não tai ương, bịnh khổ. Ra làm việc gì đều được hanh thông, nói ra lời gì đều được tín thọ.

Nếu tụng thần chú này mãn 10 vạn biến trong chiêm bao thấy được chư Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác tự thấy trong miệng mửa ra vật đen. Nếu có ngũ nghịch tội thì không được thấy những hảo mộng như vậy. Nên tụng mãn 70 vạn biến thì sẽ được thấy những tướng như trước cho đến mộng thấy mửa ra sắc trắng như sữa, cơm, vân vân thời phải biết người đó tội diệt, được tướng thanh tịnh.



Ngày 4 Tháng 4 âm lịch – Vía Đức Văn Thù Bồ Tát (Celebration of Manjusri Bodhisattva)

Picture

Đức Văn Thù Bồ Tát

Văn-thù-sư-lợi (zh. 文殊師利, sa. mañjuśrī) là tên dịch theo âm, thường được gọi tắt là Văn-thù, dịch nghĩa là Diệu Đức (zh. 妙德), Diệu Cát Tường (zh. 妙吉祥), cũng có lúc được gọi là Diệu Âm (zh. 妙音), dịch từ tên tiếng Phạn là Mañjughoṣa, là một vị Bồ Tát tượng trưng cho trí huệ, một trong những vị Bồ Tát quan trọng của Phật giáo. Lần đầu tiên người ta nhắc đến Văn-thù trong tác phẩm Văn-thù-sư-lợi căn bản nghi quỹ (sa. ārya-mañjuśrī-mūlakalpa) ở thế kỉ thứ 4. Tranh tượng trình bày Văn-thù với lưỡi kiếm và kinh Bát-nhã-ba-la-mật-đa, được vẽ khoảng ngang đầu. Người ta xem đó là biểu tượng trí huệ phá đêm tối của Vô minh. Về sau chúng ta thường thấy Văn-thù cưỡi trên một con sư tử.

Trong Phật giáo Tây Tạng, các vị luận sư xuất sắc như Tông-khách-ba thường được xem là hiện thân của Văn-thù (Châu-cô). Dưới tên Diệu Âm (zh. 妙音), “Người với tiếng nói êm dịu”, Văn-thù Bồ Tát thường được tán tụng trước khi hành giả nghiên cứu kinh điển, nhất là kinh điển thuộc hệ Bát-nhã-ba-la-mật-đa và học thuyết của Trung quán tông. Văn-thù là vị Bồ Tát tượng trưng cho kinh nghiệm giác ngộ, đạt được bằng phương tiện tri thức.

Văn-thù cũng xuất hiện dưới dạng một Thần thể (sa. iṣṭadevatā, sādhita, bo. yidam) phẫn nộ, có tên gọi là Diêm-mạn-đức-ca – “Người chiến thắng tử thần” (sa. yamāntaka), có dạng vị thần mang đầu bò. Dạng này là Thần thể quan trọng của phái Cách-lỗ tại Tây Tạng.

Theo truyền thống Phật giáo Trung Quốc, Văn-thù được Phật Thích-ca đích thân giao phó việc truyền bá Phật pháp tại đây và Ngũ Đài sơn chính là nơi Bồ Tát thuyết pháp. Vì vậy, Ngũ Đài sơn cũng được xem là trụ xứ của Văn-thù (xem Tứ đại danh sơn). Một thuyết khác bảo rằng, Bồ Tát đã từng xuất hiện tại Trung Quốc trong thế kỉ 1, đời Hán Minh Đế. Câu niệm danh hiệu của vị bồ tát này là: “Nam mô đại trí văn thù sư lợi bồ tát“.



Ngày 15 Tháng 4 âm lịch – Vía Phật Thích Ca giáng sanh (Celebration of Shakyamuni Buddha’s Birthday)

Picture

Phật Thích Ca giáng sanh


Ngày 19 Tháng 6 âm lịch – Vía Đức Quán Thế Âm (thành đạo) (Celebration of Gwan Yin Bodhisattva’s Enlightenment)

Picture

Đức Quán Thế Âm Bồ Tát


Ngày 13 Tháng 7 âm lịch – Vía Đức Đại Thế Chí Bồ Tát (Celebration of Great Strength Bodhisattva)

Picture

Đức Đại Thế Chí Bồ Tát

Đại Thế Chí là một vị bồ tát của ánh sáng trí tuệ trong Phật giáo đại thừa.

Bồ tát Đại thế chí còn gọi là Đắc đại thế Bồ tát, Đại tinh tấn Bồ tát, Vô biên quang Bồ tát… Đại thế chí Bồ tát vì Bồ tát dùng ánh sáng trí tuệ chiếu khắp mọi loài, làm cho chúng sanh trong mười phương thế giới thoát khổ thành tựu quả vị Vô thượng bồ đề. Đắc đại thế Bồ tát vì Bồ tát có hạnh nguyện đại hùng đại lực đại từ bi, dùng hạnh nguyện này để trụ trong Ta bà thế giới điều phục và tiếp độ hạng chúng sanh cang cường khó độ. Đại tinh tấn Bồ tát vì Bồ tát có sức tinh tấn vĩ đại, điều phục các phiền não và giáo hoá chúng sanh không bao giờ mệt mỏi. Vô biên quang Bồ tát vì nơi thân Bồ tát có màu vàng tử kim chiếu khắp mười phương thế giới, chúng sanh nào có duyên thấy liền được thấy ánh quang minh tịnh diệu của vô lượng chư Phật ở khắp mười phương thế giới.

Theo kinh Quán vô lượng thọ, Bồ tát thân cao tám mươi muôn ức na do tha do tuần, da màu vàng tử kim, trong thiên quang của Bồ tát có 500 hoa báu, mỗi một hoa báu có 500 đài báu, trong mỗi đài đều hiện quốc độ tịnh diệu của mười phương chư Phật, nhục kế như hoa Bát đầu ma, giữa nhục kế có một hình báu, khác hình tượng Quan thế âm Bồ tát.

Theo phẩm A lợi đa la đà la ni a lỗ lực, hai Bồ tát đều toàn thân màu vàng, phóng hào quang trắng, tay phải cầm phất trần trắng, tay trái cầm hoa sen, thân hình Bồ tát Đại thế chí nhỏ hơn Quán Thế Âm.

Còn trong Hiện đồ mạn đồ la thai tạng giới của Mật tông, ngài là vị thứ hai ở phương trên trong viện Quan âm, ngồi trên hoa sen đỏ, thân màu trắng, tay trái cầm hoa sen mới nở, tay phải co ba ngón giữa đặt trước ngực. Mật hiệu là Trì luân kim cương, hình Tam muội da là hoa sen mới nở.

Theo kinh Quán vô lượng thọ, vô lượng hằng sa kiếp về trước thời Phật Bảo tạng, ngài là thái tử Ni Ma và Bồ tát Quán thế âm là thái tử Bất Huyền con của vua Vô Tránh Niệm. Bấy giờ vua Vô tránh niệm cùng với hai vị thái tử đến đạo tràng cúng dường Phật Bảo tạng. Sau khi nghe Phật thuyết pháp, vua cùng hai vị thái tử phát Bồ đề tâm… được Phật thọ ký tương lai sẽ thành Phật.

Vua Vô tránh niệm tương lai sẽ thành Phật hiệu là A Di Đà Như lai ở thế giới Tây phương Cực Lạc, thái tử Bất huyền sẽ thành Phật hiệu là Biến xuất nhất thiết quang minh công đức sơn vương Như lai, còn thái tử Ni ma sẽ thành Phật hiệu là Thiện trụ công đức bảo vương Như lai.



Ngày 15 Tháng 7 âm lịch – Lễ Vu Lan Bồn (Celebration of Ullambana)

Picture

Vu-lan (chữ Hán: 盂蘭; sa. ullambana), còn được hiểu là lễ báo hiếu, là một trong những ngày lễ chính của Phật giáo. Lễ này trùng với Tết Trung nguyên của người Hán, và cũng trùng hợp với ngày Rằm tháng 7 Xá tội vong nhân của phong tục Á Đông. Vào ngày này, mọi tù nhân ở Địa ngục có cơ hội được xá tội, được thoát sanh về cảnh giới an lành. Theo tín ngưỡng dân gian, là ngày mở cửa ngục, ân xá cho vong nhân nên có lễ cúng Cô Hồn (vào buổi chiều) cho các vong linh không nhà cửa không nơi nương tựa, không có thân nhân trên Dương thế thờ cúng.Từ nguyên:
Vu-lan (chữ Hán: 盂蘭; sa. ullambana) là từ viết tắt của Vu-lan-bồn (盂蘭盆), cũng được gọi là Ô-lam-bà-noa (烏藍婆拏), là cách phiên âm Phạn-Hán từ danh từ ullambana. Ullambana có gốc từ động từ ud-√lamb, nghĩa là “treo (ngược) lên”. Thế nên các đại sư Trung Quốc cũng dùng từ Đảo huyền (倒懸), “treo ngược lên” cho từ Vu-lan, hoặc dùng từ Giải đảo huyền(解倒懸) là dịch ý theo mục đích của Kinh Vu-lan-bồn. Thật ra, từ Giải đảo huyền được các đại sư Trung Quốc lấy ý từ câu: Dân chi duyệt chi do giải đảo huyền dã trong Mạnh Tử, chương 3 Công Tôn Sửu Thượng. Chỉ sự giải thoát cho những kẻ khổ sở tột cùng ở cảnh giới Địa ngục.


Ngày 30 Tháng 7 âm lịch – Vía Đức Địa Tạng Bồ Tát (Celebration of Earth Store Bodhisattva)

Picture

Đức Địa Tạng Bồ Tát

Địa Tạng Bồ Tát (zh. dìcáng 地藏, sa. kṣitigarbha). Một vị Bồ Tát chuyên cứu độ sinh linh trong Địa ngục và trẻ con yểu tử. Có khi Địa Tạng cũng là người được xem là chuyên cứu giúp lữ hành phương xa. Đó là vị Bồ Tát duy nhất được diễn tả với bạch hào (lông trắng xoáy nằm giữa hai mắt, sa. ūrṇā) trên trán, một trong ba mươi hai tướng tốt của một vị Phật. Địa Tạng hay cầm Như ý châu (sa. cintāmaṇi) và Tích trượng có sáu vòng, biểu hiện của sự cứu độ chúng sinh của Bồ Tát trong Lục đạo (sáu đường tái sinh).

Tại Trung Quốc và các nước Đông nam Á, Địa Tạng được xem là một trong bốn vị Đại Bồ Tát (ba vị khác là Quán Thế Âm, Văn-thù-sư-lợi và Phổ Hiền) chuyên cứu độ những người bị sa vào địa ngục. Trú xứ của Bồ Tát là Cửu Hoa sơn (xem Tứ đại danh sơn) và tương truyền rằng, Địa Tạng đã thật sự hiện thân tại đây vào đời Đường dưới dạng một hoàng tử xứ Triều Tiên. Sau khi chết, nhục thân của vị hoàng tử này không tan rữa và người ta đã xây dựng một ngôi tháp để thờ vị này, một bảo tháp mà ngày nay vẫn còn.

Trước đây vô lượng kiếp, Địa Tạng là một Bà-la-môn và đã thệ nguyện trước một vị Phật thời đó là sẽ quyết tâm tu luyện đạt Phật quả, nhưng sẽ khước từ Phật quả này khi chưa cứu độ tất cả chúng sinh thoát khỏi Luân hồi. Trong một tiền kiếp, Bồ Tát là một cô bé có một bà mẹ thường hay sát sinh để kiếm sống. Sau khi mẹ qua đời, cô bé này ngồi thiền mãi cho đến khi nghe một giọng nói, khuyên cô nên niệm danh đức Phật. Sau đó, cô nhập định, xuống ngay đến cửa địa ngục. Nơi đây, cô được cho biết rằng, chính vì công phu thiền định và niệm Phật mà cô đã cứu mẹ thoát khỏi địa ngục.

Nhờ thần thông, Địa Tạng Bồ Tát có thể biến hóa thành nhiều dạng để cứu chúng sinh trong lục độ. Trong một buổi lễ long trọng, thường là ngày thứ 100 sau khi chết, các thân nhân thường thắp hương làm lễ cầu xin Bồ Tát hướng dẫn người chết đến cõi Cực lạc của Phật A-di-đà (sa. amitābha). Sau đó, một trong những thân nhân sẽ niệm một câu thần chú để gọi người chết trở về nghe chính pháp. Lễ này được chấm dứt với sự niệm danh Phật A-di-đà và Bồ Tát Địa Tạng một lần nữa. Địa Tạng cũng là một danh hiệu khác của Thiền sư La-hán Quế Sâm vì trước khi dời về viện La-hán, Sư trụ trì thiền viện Địa Tạng.



Ngày 19 Tháng 9 âm lịch – Vía Đức Quán Thế Âm (xuất gia) (Celebration of Gwan Yin Bodhisattva’s Leaving Home)

Picture

Đức Quán Thế Âm Bồ Tát


Ngày 30 Tháng 9 âm lịch – Vía Phật Dược Sư (Celebration of Medicine Master Buddha)

Picture

Đức Phật Dược Sư

Phật Dược Sư (tiếng Phạn: bhaiṣajyaguru; chữ Hán: 藥師佛; nghĩa là “vị Phật thầy thuốc”), còn gọi là Dược Sư Lưu Li Quang Phật, (bhaiṣajyaguruvaidūrya-prabha-buddha; 藥師琉璃光佛), là vị Phật đại diện cho sự trọn vẹn của Phật quả ngự cõi phía đông (là cõi Tịnh độ). Tranh tượng của vị Phật này hay được vẽ với tay trái cầm thuốc chữa bệnh và tay mặt giữ Ấn thí nguyện.

Phật Dược Sư thường được thờ chung với Phật Thích Ca Mâu Ni và A Di Đà, trong đó phật Dược Sư đứng bên trái còn Phật A Di Đà đứng bên phải Phật Thích Ca. Trong kinh Dược Sư, hiện nay chỉ còn bản chữ Hán và chữ Tây Tạng, người ta đọc thấy 12 lời nguyện của vị Phật này, thệ cứu độ chúng sinh, với sự giúp đỡ của chư Phật, Bồ Tát và 12 vị Hộ Pháp và Thiên vương.

Tại Trung Quốc, Tây Tạng, Nhật Bản và Việt Nam, Phật Dược Sư được thờ cúng rộng rãi.

Các lời nguyện của Phật Dược Sư:

  1. Phát hào quang chiếu sáng mọi chúng sinh.
  2. Cho chúng sinh biết đến Nhất thiết trí của mình.
  3. Cho chúng sinh thực hiện được ước nguyện.
  4. Hướng dẫn chúng sinh đi trên đường Đại thừa.
  5. Giúp chúng sinh giữ giới hạnh.
  6. Giúp chúng sinh chữa lành các thứ bệnh do sáu giác quan sinh ra.
  7. Chữa bệnh thuộc về thân tâm cho mọi chúng sinh.
  8. Cho phụ nữ tái sinh trở thành nam giới.
  9. Tránh cho chúng sinh khỏi rơi vào tà kiến và giúp trở về chính đạo.
  10. Tránh cho chúng sinh khỏi tái sinh trong thời mạt pháp.
  11. Đem thức ăn cho người đói khát.
  12. Đem áo quần cho người rét mướt.


Ngày 17 Tháng 11 âm lịch – Vía Phật A Di Đà (Celebration of Amitabha Buddha’s Birthday)

Picture

Đức Phật A Di Đà

A-di-đà hay A Di Đà (zh. 阿彌陀) là danh từ phiên âm có gốc từ hai chữ trong tiếng Phạn: amitābha và amitāyus. Amitābha dịch nghĩa là “vô lượng quang” – “ánh sáng vô lượng”; amitāyus có nghĩa là “vô lượng thọ” – “thọ mệnh vô lượng”.

Đây là tên của một vị Phật được tôn thờ nhiều nhất trong Đại thừa. A-di-đà trụ trì cõi Cực lạc (sa. sukhāvatī) ở phương Tây. Phật A-di-đà được tôn thờ trong Tịnh độ tông tại Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và Tây Tạng, tượng trưng cho Từ bi và Trí huệ.

Trong lịch sử đạo Phật, việc tôn xưng A-di-đà là một mốc phát triển quan trọng. Phép niệm A-di-đà là một cách tu dưỡng mới của Phật tử, không phải trải qua vô số kiếp. Đây là cách tu dưỡng dựa vào Tha lực, dựa vào đại nguyện của một vị Phật-một phép tu “nhanh chóng, dễ dàng” hơn chứ không phải dựa vào tự lực của chính mình. Đó là phép tu nhất tâm niệm danh hiệu “Nam-mô A-di-đà Phật” lúc lâm chung để được sinh vào cõi Cực lạc.

Trong lịch sử Phật giáo thì Phật A-di-đà được tôn thờ sớm nhất trong lịch sử, vào hàng a tăng kỳ kiếp trước có một vì vua sau khi nghe đức Phật thuyết pháp thì lập tức giác ngộ và từ bỏ ngai vàng mà đi theo đức Phật để quy y pháp danh là Pháp Tạng và đã thành Phật hiệu là A Di Đà(16 triệu 800 ngàn năm là một tiểu kiếp, 1000 tiểu kiếp bằng 1 trung kiếp, 1000 trung kiếp bằng một đại kiếp, 1000 đại kiếp bằng 1 a tăng kỳ kiếp). Thân hình của vị Phật này thường được vẽ bằng màu đỏ, tượng trưng cho màu mặt trời lặn phương Tây. Một tay của A-di-đà bắt ấn thiền định, tay kia giữ một cái bát, dấu hiệu của một giáo chủ, cũng có ảnh một tay đức phật cầm tòa sen, một tay xòe ra đưa xuống đất có ý nghĩa để dẫn dất chúng sinh lên tòa sen về cõi tinh độ. Tòa sen tượng trưng cho sự thanh tịnh và hai con công là biểu hiện của sự thoát hiểm, thoát khổ. Tại Ấn Độ và Tây Tạng, người ta tin rằng con công có thể ăn tất cả những chất độc mà không bị ảnh hưởng gì.

Tượng A Di Đà thường có những nét đặc trưng: đầu có các cụm tóc xoắn ốc, mắt nhìn xuống, miệng thoáng nụ cười cảm thông cứu độ, mình mặc áo cà sa, ngồi hoặc đứng trên tòa sen

Phật A-di-đà cũng thường được trình bày với hình tượng mang vương miện kết bằng ngọc quí, có khi dưới dạng của Pháp Tạng tỉ khâu, đầu cạo trọc, một dạng tiền kiếp của phật A Di Đà. Thông thường, A-di-đà được vẽ ngồi trên tòa sen, tay Ngài bắt ấn thiền hay ấn giáo hóa. Cùng được thờ chung với A-di-đà là hai Bồ Tát, đó là Quán Thế Âm (sa. avalokiteśvara), đứng bên trái và Đại Thế Chí (sa. mahāsthāmaprāpta), đứng bên phải. Có khi người ta trình bày Phật A-di-đà đứng chung với Phật Dược Sư (sa. bhaiṣajyaguru-buddha).

Tương truyền rằng một trong số những kiếp luân hồi của A-di-đà từng là một nhà vua. Sau khi phát tâm mộ đạo, vị vua này từ bỏ ngôi báu và trở thành một tỳ kheo với tên là Pháp Tạng (sa. dharmākara). Ngài quyết tâm tu hành thành Phật và nguyện giúp chúng sinh tái sinh vào cõi Cực lạc của mình và cũng sẽ thành Phật. Phật A-di-đà lập 48 đại nguyện nhằm giúp chúng sinh giải thoát.



Ngày 8 Tháng 12 âm lịch – Vía Phật Thích Ca thành đạo (Celebration of Shakyamuni Buddha’s Enlightenment)

Picture

Đức Phật Thích Ca

Thích-ca Mâu-ni (zh. 釋迦牟尼, sa. śākyamuni, pi. sakkamuni, dịch nghĩa là “Trí giả trầm lặng (muni) của dòng Thích-ca”. Đây là danh hiệu của Tất-đạt-đa Cồ-đàm (sa. siddhārtha gautama, zh. 悉達多 瞿曇), người sáng lập Phật giáo. Thái tử Tất-đạt-đa mang tên này sau khi từ bỏ các vị thầy và tự mình tìm đường giải thoát. Danh hiệu “Thích-ca Mâu-ni” thường được dùng để chỉ vị Phật lịch sử đã từng sống trên Trái Đất này, nhằm phân biệt với các vị Phật khác.

Dòng Thích-ca vốn là vương tộc, cai trị một trong 16 vương quốc của Ấn Độ thời bấy giờ, ngày nay thuộc miền Nam Nepal. Kinh đô thời đó là Ca-tì-la-vệ (sa. kapilavastu), là nơi Phật sinh ra và trưởng thành. Vua cha là Tịnh Phạn (sa. śuddhodana, pi. suddhodana), trị vì tiểu vương quốc Thích-ca.

Thời bấy giờ, tiểu vương quốc dòng Thích-ca có một hội đồng trưởng lão tham gia quốc sự, nhưng vương quốc này bị phụ thuộc vào nước Kiêu-tát-la (sa. kośala). Ngay trong thời Phật còn tại thế, tiểu vương quốc Thích-ca bị một quốc vương của Kiêu-tát-la đem quân xâm chiếm và tiêu diệt gần hết. Sau khi Phật thành đạo và trở lại Ca-tì-la-vệ giảng dạy, nhiều vị trong dòng dõi Thích-ca xin gia nhập Tăng-già. Tại đó, người thợ cạo Ưu-ba-li (sa., pi. upāli) xin gia nhập, trở thành tăng sĩ trước và vì vậy được xem cao quý hơn các vị lĩnh đạo trong hoàng gia gia nhập sau.

Sự Phát Triển Và Vai Trò Của Phật Giáo Ở Việt Nam

0

Vài nét về vai trò của văn hóa Phật giáo trong nền văn hóa Việt Nam

Phật giáo truyền vào Việt Nam từ Ấn Độ và Trung Hoa. Với tinh thần khế lý, khế cơ, tùy duyên bất biến, Phật giáo đã hội nhập, hòa quyện với tín ngưỡng và văn hóa dân gian để trở thành Phật giáo Việt Nam đầy sức sống.

Phật giáo càng phát triển và bén rễ sâu trong đời sống xã hội thì sự gắn bó với dân tộc càng sâu sắc. Trong suốt chiều dài lịch sử phát triển của mình, đạo Phật được xem là quốc giáo với hệ tư tưởng chủ đạo là Phật giáo vào hai thời kỳ: Nhà Lý (1010-1225) và nhà Trần (1225-1400). Có thể khẳng định rằng Phật giáo đã có những đóng góp xứng đáng vào kho tàng văn hóa phong phú và độc đáo của dân tộc với nhiều di sản văn hóa vật chất và tinh thần có giá trị như: kiến trúc chùa tháp, các tác phẩm điêu khắc tượng thờ, tranh thờ Phật giáo, đồ thờ cúng,… cùng những giá trị về tư tưởng, đạo đức, văn học và nhiều nghi lễ Phật giáo khác. Di sản văn hóa Phật giáo Việt Nam mang đậm dấu ấn văn hóa dân tộc với những đặc trưng giản dị, hài hòa, gần gũi. Ảnh hưởng của Phật giáo với dân tộc và nền văn hóa dân tộc rất sâu rộng nên trong bài viết này chỉ dám nêu vài nét để cùng nhau trao đổi.

Trong bối cảnh gần nghìn năm Bắc thuộc, Phật giáo Việt Nam đã hòa mình, gắn bó với dân tộc thông qua việc vận động tín đồ, Phật tử và nhân dân đoàn kết để phò vua, cứu nước, đánh đuổi ngoại xâm, giành lại độc lập cho dân tộc. Lịch sử dân tộc chứng minh rằng, Phật giáo đã có nhiều đóng góp vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Tín đồ, Phật tử cũng hiểu rằng đất nước có độc lập thì Phật giáo mới ổn định, phát triển và hưng thịnh… Tinh thần Phật giáo đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các vua triều Lý – Trần trong trị nước, an dân mặc dù Đạo giáo và Nho giáo ở thời kỳ này cũng phát triển. Các vị vua tài đức đã tạo nên một triều đại lấy đức từ bi làm căn bản cho chính trị và luôn sống vì dân nên đã cố kết lòng dân để vua tôi, dân chúng đoàn kết chung lòng chống ngoại xâm, xây dựng đất nước. Hành đạo từ bi, đạo đức trong dân chúng nên đời sống xã hội đời Lý – Trần trở thành thuần từ và đẹp đẽ, làm cho dân giàu nước mạnh. Thực sự, an được dân thì nước sẽ cường thịnh, an được dân chính là yêu nước và giữ nước. Việc an dân là truyền thống của Phật giáo nên được các triều đại đương thời giao phó và coi trọng.

Về văn hóa, với lịch sử gần 2.000 năm du nhập vào Việt Nam, Phật giáo đã thấm sâu vào trong đời sống văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam; đồng hành cùng dân tộc là một nét đặc trưng nổi bật trong truyền thống và tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam. Đạo Phật đã thấm vào lòng dân Việt Nam từ lâu đời và những người theo đạo Phật đều hiểu rằng Bụt đã hóa thân vào nền văn hóa dân gian. Trong văn hóa dân gian, hình ảnh ông Bụt hiện lên như một vị thần hiền từ, luôn cứu khổ cứu nạn và do đó, trong dân gian đã có câu nói không biết tự bao giờ: “Hiền như Bụt”. Vào thời Lý, truyện Ỷ Lan được nhân dân ca tụng là Quan Âm Nữ và được xem là truyện dân gian cô Tấm ở miền Kinh Bắc. Ông Bụt hiền lành là hình tượng Đức Phật trong dân gian Việt Nam, là một kết quả rất đặc sắc của Phật giáo hội nhập vào nền văn hóa dân gian Việt Nam. Người Việt Nam sợ thần thánh, ma quỷ,… nhưng lại không sợ ông Bụt, bởi vì ông Bụt tuy có quyền năng vô hạn “Phật Pháp vô biên” nhưng luôn cứu giúp con người. Người Việt Nam luôn hình dung một ông Bụt giàu lòng thương người, đặc biệt là người cô đơn, bị ức hiếp. Chẳng hạn chuyện Tấm Cám, cứ mỗi lần nghe Tấm khóc nức nở, Bụt lại hiện lên an ủi, cứu giúp,… hay những nhân vật: người em út trong truyện Cây khế, người xấu xí trong truyện Sọ dừa,… Ông Bụt trong dân gian Việt Nam hiền lành, nhân hậu tới mức không biết giận là gì, cho nên, người ta chỉ gọi là Bụt, nhưng rất đỗi thân thương: Gần chùa gọi Bụt bằng anh/Trông thấy Bụt lành, cõng Bụt đi chơi. Ðức Phật còn hòa nhập vào người thành ra những ông Bụt mang thân người, như các vua: Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông – vua Trần Nhân Tông thường được gọi là vua Bụt (Phật Hoàng).

Một trong những đóng góp quan trọng của văn hóa Phật giáo là ngôi chùa, rất đặc biệt mà cũng rất gần gũi, gắn bó với người dân. Chùa đã hòa nhập vào làng xã mà biến thành chùa làng. Chùa làng là chùa của làng, nhiều nơi lấy tên làng để đặt tên cho chùa và thường không phải là chùa của sư, tuy rằng vẫn có sư trụ trì chùa. Chùa đã vào làng thì theo lệ làng và được người dân gọi bằng cái tên dân làng ưa thích. Vai trò của ngôi chùa làng rất quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân dân vì ngôi chùa góp phần hình thành tư tưởng, đạo đức, nhân cách cho dân làng, trong đó phải kể đến vai trò to lớn của nhà sư: “Chùa có sư như nhà có nóc”. Bởi vậy, một trong những điều đặc biệt là đất nước bị xâm chiếm nhưng làng xã Việt Nam không mất, các sinh hoạt trong cộng đồng làng xã, trong đó có ngôi chùa vẫn cơ bản giữ được truyền thống, ít bị đồng hóa. Người dân từ nhiều đời đã coi ngôi chùa là trung tâm văn hóa, là trường học góp phần giáo dục nền đạo đức, lòng từ bi nên khi vừa dời đô về Thăng Long, Lý Thái Tổ đã cho xây dựng nhiều chùa và tuyển chọn hàng nghìn người ở kinh thành Thăng Long xuất gia đi tu. Vì thế, thời Lý – Trần, trung tâm sinh hoạt văn hóa dân gian ở các làng xã là quanh các ngôi chùa; sang thời Lê, khi những ngôi đình xuất hiện và phát triển thì chùa làng vẫn không giảm đi phần quan trọng. Theo các nhà nghiên cứu thì 95% nền văn hóa Việt Nam hình thành từ làng xã, do đó, văn hóa Phật giáo trong đó có chùa làng góp phần không nhỏ.

Một vấn đề khác cũng rất đáng quan tâm. Đó là chính dân gian Việt Nam và sự ảnh hưởng của Phật giáo đã chuyển hóa giới tính Bồ Tát Quan Thế Âm từ nam tính của Ấn Độ sang nữ tính ở Việt Nam. Bồ Tát Quan Thế Âm trong Đại thừa Phật giáo từ Ấn Độ là một vị Phật đàn ông. Theo quan niệm, Phật hiển hiện ở khắp mọi nơi và không chỉ đản sinh làm đàn ông mà tùy theo từng trường hợp có thể là nữ giới. Vì vậy, Bồ Tát Quan Thế Âm chuyển từ trong tiềm thức nhân dân mà trở thành Phật Quan Âm. Ở chùa Hương Tích (Hà Tây cũ), sự tích Bà Chúa Ba rất đậm chất dân gian và đỉnh cao của sự Việt Nam hóa và dân gian hóa Bồ Tát Quan Thế Âm là truyện Quan Âm Thị Kính. Thời Lý, chùa Diên Hựu (Một Cột) chỉ thờ tượng Quan Thế Âm Bồ Tát. Sang thời Lê, những pho tượng đẹp nhất được thờ ở nhiều Phật điện vẫn là tượng Quan Âm thiên thủ, thiên nhãn.

Theo lịch sử, các triều đại thời Lê có khuynh hướng thiên về Nho giáo mà không coi trọng Phật giáo như các vị vua thời Lý – Trần, thậm chí Vua Lê Thánh Tông đã ra lệnh không cho xây dựng chùa mới nữa, chỉ cho sửa sang những ngôi chùa cũ. Tuy nhiên, vua vẫn đi thăm các di tích danh thắng là những ngôi chùa nổi tiếng như chùa Hương Tích – “Nam thiên đệ nhất động”, chùa Đọi Sơn (Hà Nam), chùa Non Nước (Ninh Bình),… nổi tiếng từ thời Lý và các đời vua cũng không thể ngăn cản được các hoàng hậu, cung phi đi chùa lễ Phật. Vào thời Mạc, nhiều ngôi chùa được xây dựng lại như chùa Phổ Minh, chùa Dâu,… Vua Minh Mạng có tiếng đề cao Nho giáo nhưng giữa cung đình Huế vẫn có nơi riêng thờ Phật.

Qua đó cho thấy, Phật giáo luôn gắn bó với người dân Việt Nam trong các thời kỳ mặc dù có lúc thăng trầm chính vì Phật giáo đã được dân gian hóa: “Đất của Vua, Chùa của Làng” hay “Đất Vua, Chùa làng, phong cảnh Bụt”. Các ngôi chùa cũng qua những giai đoạn lịch sử khác nhau, chùa thời Lý – Trần có nhiều ngôi chùa mang tính “nhà nước” đương thời nhưng thời Lê – Mạc – Nguyễn, chùa về cơ bản là chùa làng theo đúng nghĩa. Theo đó, đi chùa đã trở thành một sinh hoạt văn hóa dân gian trên đường trở về (quy) của một đời người nên dân gian mới thường nói: “Trẻ vui nhà, già vui chùa”. Vì thế, người Việt Nam từ xưa tới nay đã sẵn tâm góp tiền, góp sức xây dựng chùa ở khắp vùng miền và đã được nhân dân đúc kết: Làm chùa, tô tượng, đúc chuông/Trong ba việc ấy, thập phương nên làm.

Những lời Đức Phật dạy cách đây hơn 25 thế kỷ nhưng đến nay vẫn còn nguyên giá trị, mãi là “khuôn vàng, thước ngọc” để giúp con người hình thành nhân cách, đạo đức và vì thế đã hòa nhập với văn hóa Việt Nam, ngày càng sâu rễ, bền gốc trong lòng dân tộc Việt Nam. Các triều vua Lý – Trần thấy được giá trị nhân bản của văn hóa Phật giáo nên đã tự tu và dạy cho dân chúng tu, hình thành cốt cách văn hóa Đại Việt. Hiện nay, những giá trị văn hóa truyền thống dân tộc nói chung và văn hóa Phật giáo nói riêng đang có dấu hiệu bị phai nhạt. Nhiều người không hiểu giáo lý Phật giáo mặc dù đi chùa thường xuyên, trong đó có giới trẻ. Trong khi đó, sự cám dỗ về vật chất ngày càng lớn, đạo đức xã hội xuống cấp nghiêm trọng, tệ nạn xã hội tràn lan, gây bất ổn cho không ít gia đình và phức tạp cho xã hội, nhưng nhiều người lại không tu học, không hiểu nhiều, hiểu sâu về văn hóa Phật giáo để giúp định hướng cho cuộc sống của mình. Đó là vấn đề cần quan tâm, trong đó việc phát huy tinh hoa văn hóa Phật giáo.

GHPG Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu Phật sự quan trọng do có đường hướng hoạt động đúng đắn, phù hợp với xu thế phát triển của xã hội và với tinh thần: “Trưởng dưỡng đạo tâm, tăng cường đạo lực, trang nghiêm Giáo hội”. Sự đoàn kết, hòa hợp Phật giáo và phát huy truyền thống hòa quyện giữa Phật giáo với Dân tộc trên con đường phát triển của mình, chắc chắn Phật giáo đã, đang phát triển và sẽ còn sống mãi trong lòng dân tộc và giữa nền văn hóa dân gian của Việt Nam. Tuy nhiên, trước thực trạng xã hội hiện nay, vai trò của văn hóa Phật giáo trong giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của Phật giáo để góp phần tiếp tục xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là rất quan trọng, không để bị ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường. Trong thời gian qua, ở một số nơi đã có những việc làm không phù hợp với văn hóa Phật giáo như đưa “dị vật” vào chùa: chẳng hạn tượng lạ, sư tử hay có những sinh hoạt hoàn toàn không đúng với văn hóa Phật giáo. Đó cũng là vấn đề cần được quan tâm để giữ gìn sự trong sáng của văn hóa Phật giáo ở Việt Nam./.

Thiền Tứ Niệm Xứ Là Gì – Những Vấn Đề Cốt Lõi

0

Khái Niệm

Tứ niệm xứ (zh. 四念處, sa. smṛtyupasthāna; P: satipaṭṭhāna), là bốn phép quán cơ bản về sự tỉnh giác. Phương pháp thiền quán của Phật giáo nguyên thuỷ gồm quán thân sa., pi. kāya, quán thụ (sa., pi. vedanā), quán tâm (sa., pi. citta) và các pháp (tức là những ý nghĩ, khái niệm, gom lại là tâm pháp).

Phương Pháp Thiền Niệm

Phương pháp quán chiếu này được nói rõ trong kinh Tứ niệm xứ (pi satipaṭṭhāna-sutta) và Phật từng nói rằng, pháp này có thể đưa đến Niết-bàn. Ngày nay tại phương Tây, phép quán bốn niệm xứ được phổ biến rộng, trong đó hành giả ngồi (Toạ thiền) hay áp dụng phép quán này trong các hoạt động hàng ngày.

Quán Thân

Bao gồm sự tỉnh giác trong hơi thở, thở ra, thở vào (pi. ānāpānasati), cũng như tỉnh giác trong bốn dạng cơ bản của thân (đi, đứng, nằm, ngồi). Tỉnh giác trong mọi hoạt động của thân thể, quán sát 32 phần thân thể, quán sát yếu tố tạo thành thân cũng như quán tử thi.

Quán Thọ

Là nhận biết rõ những cảm giác, cảm xúc dấy lên trong tâm, biết chúng là dễ chịu, khó chịu hay trung tính, nhận biết chúng là thế gian hay xuất thế, biết tính vô thường của chúng.

Quán Tâm

Là chú ý đến các tâm pháp (ý nghĩ) đang hiện hành, biết nó là tham hay vô tham, sân hay vô sân, si hay vô si (Tâm sở).

Quán Pháp

Là biết rõ mọi pháp đều phụ thuộc lẫn nhau, đều Vô ngã, biết rõ Ngũ chướng có hiện hành hay không, biết rõ con người chỉ là Ngũ uẩn đang hoạt động, biết rõ gốc hiện hành của các pháp và hiểu rõ Tứ diệu đế.

Trong Đại thừa, các phép niệm xứ được hiểu là quán thân, thụ, tâm, pháp; bốn thứ đều là dạng của tính Không.

Chúng ta phải hiểu từ “chánh niệm” có nghĩa là gì. Khi người ta nói về chánh niệm, họ thường nghĩ đến việc hiện diện. Như Sally Armstrong nói, “Nếu chánh niệm chỉ là hiện diện trong khoảnh khắc hiện tại, thì một con chó cơ bản cũng được giác ngộ.”

Chẳng có gì qua mặt được con chó, nhưng chánh niệm không chỉ đơn giản là sự hiện diện. Nhà sư và học giả Phật giáo Thanissaro Bhikkhu chỉ ra rằng, từ sati chúng ta thường dịch là niệm, thực sự có thể được dịch thích hợp hơn như là từ “ghi nhớ.”

Khi chúng ta chú tâm đến cơ thể, chúng ta nhớ đến cơ thể. Chúng ta cũng có thể nhớ những gì là tốt và những gì không, điều gì dẫn đến đau khổ và điều gì dẫn tới bình an, hoặc bản chất vô thường của kinh nghiệm. Đây là tất cả những điều chúng ta có thể nhớ, hoặc phải thận trọng. Vấn đề ở đây là sati không chỉ là hiện diện với những gì đang xảy ra, mà còn trở lại và đánh giá nó. Chánh niệm có một phẩm chất phản chiếu với những gì đang diễn ra.

Thuật ngữ Satipatthana thường được dịch là “Những nền tảng chánh niệm“. Nhà sư và học giả Phật giáo Bhikkhu Anālayo (người đã hoàn thành luận văn tiến sĩ của mình về Tứ Niệm Xứ sau đó xuất bản nó như là cuốn sách – Con đường trực tiếp để thực hiện) đã thảo luận nguồn gốc của từ này.

Ông ấy cùng với Thanissaro Bhikkhu, dịch thuật ngữ này có nghĩa là “tham gia với chánh niệm” hoặc đơn giản hơn, “thiết lập chánh niệm”. Những bản dịch này có thể hữu ích cho chúng ta để hiểu về kinh điển quan trọng này, hướng dẫn chúng ta làm thế nào để tham gia các kinh nghiệm với chánh niệm, không chỉ là xây dựng nền tảng cho thực hành.

Điểm cuối cùng mà tôi muốn chia sẻ với các bạn là: Tứ Niệm Xứ được nhiều học giả và tu sĩ tin rằng đó là con đường duy nhất để giác ngộ. Một số người tin rằng, đây là thực hành đơn giản nhất hoặc ngắn nhất để chứng ngộ niết bàn. Việc sử dụng thuật ngữ “con đường trực tiếp” hay “con đường duy nhất” chứng tỏ đây là một thực hành rất quan trọng.

Một trong những điểm của thực hành Tứ Niệm Xứ là làm quen với Tam pháp ấn: Vô thường, đau khổ và vô ngã.

Kinh Tứ Niệm Xứ (Satipatthana Sutta) là hai trong số các diễn ngôn phổ biến nhất trong kinh điển Pali, nó được chấp nhận bởi cả Nguyên Thủy và Đại Thừa.

Những bài giảng này (Pāli: sutta) cung cấp một phương tiện để thực hành chánh niệm trong nhiều bối cảnh khác nhau và liên tục trong quá trình sống. Đây là những hướng dẫn của Đức Phật về thực hành thiền. Đức Phật tuyên bố vào đầu bài diễn thuyết:

“Đây là cách duy nhất (hoặc cách trực tiếp) [Pāli: ekāyano…maggo], các nhà sư, để thanh lọc chúng sinh, để vượt qua nỗi buồn và than thở, để dập tắt đau khổ, để đi trên con đường chân lý, để chứng ngộ niết bàn….”(Vipassana Research Institute, 1996, trang 2, 3.)

Thuật ngữ sati liên quan đến động từ sarati, có nghĩa là ghi nhớ. Đôi khi nó được dịch là “nhận thức không phản ứng”. Đây là một khía cạnh của sự thanh thản, một phẩm chất được củng cố trong quá trình thực hành Tứ Niệm Xứ.

Vai trò của chánh niệm là giữ cho tâm được căn cứ đúng vào khoảnh khắc hiện tại theo một cách để giữ nó trên con đường. Chúng ta có thể ví “giác ngộ” giống như một ngọn núi trên đường chân trời, điểm đến mà bạn đang lái xe. Chánh niệm là điều ghi nhớ để giữ sự chú ý tập trung trên con đường lên núi, thay vì để nó chú ý vào những cái nhìn thoáng qua ngọn núi hoặc bị phân tâm bởi những con đường khác dẫn ra khỏi con đường giác ngộ.

Bốn Nền Tảng Chánh Niệm

Nền Tảng Thứ 1 – Chánh niệm Thân Thể

Nền tảng đầu tiên của chánh niệm là cơ thể. Nó được chia thành sáu phần: chánh niệm về hơi thở, chánh niệm về tư thế, sự hiểu biết rõ ràng, chánh niệm về thực tại của thân, chánh niệm các yếu tố, và quán tử thi. Cơ thể luôn ở bên chúng ta trong cuộc đời này. Chúng ta có thể quay về nó nhiều lần, điều tra bản chất của thực tại thông qua cơ thể.

 

Hơi thở

Phần đầu tiên trong chánh niệm cơ thể là hơi thở. Đức Phật dạy chúng ta biết khi nào chúng ta hít, biết khi nào chúng ta thở ra, biết khi nào hơi thở dài, và biết khi nào hơi thở ngắn. Nó cũng gợi ý để trải nghiệm cả cơ thể khi chúng ta hít thở. Khi chúng ta hít dài thì cơ thể sẽ như thế nào và khi chúng ta thở ra dài thì cơ thể sẽ như thế nào…

Đây là một thực hành thiết yếu của Phật giáo, và là một trong những hình thức thiền được thực hiện phổ biến nhất. Chúng ta chú ý đến hơi thở, chú ý đến những điều tinh tế. Mỗi lần hít vào và thở ra trở nên quan trọng khi chúng ta hướng sự chú ý đến nó. Hơi thở luôn ở bên chúng ta. Như vậy, thực hành này có thể được thực hiện bất cứ nơi nào và bất cứ lúc nào.

Tư thế di chuyển

Phần thứ hai của chánh niệm về thân thể là nhận thức rõ ràng về các tư thế. Trong Kinh Tứ Niệm Xứ (Satipatthana Sutta), Đức Phật hướng dẫn cho các bạn đồng tu của mình biết khi nào chúng ta di chuyển, biết khi nào chúng ta đang đứng, biết khi nào chúng ta đang ngồi, và biết khi nào chúng ta nằm xuống. Tất nhiên, có rất nhiều tư thế độc đáo nằm ngoài bốn tư thế cơ bản này. Chúng ta thường di chuyển, cho dù đó là chuyển động nhẹ của ngón tay hoặc các hoạt động lớn.

Một lần nữa, cơ thể luôn ở bên chúng ta. Chúng ta có thể mang lại nhận thức rõ ràng về các tư thế. Một thực hành tốt với điều này sẽ mang lại nhận thức về cơ thể mỗi khi nó thay đổi.

Ví dụ, thông báo khi bạn chuyển từ đứng sang ngồi. Làm thế nào để cơ thể nghỉ ngơi trên một chiếc ghế? Bạn có thể mang lại nhận thức cho cơ thể khi bạn bắt đầu đi bộ. Có gì trong cơ thể bạn đang di chuyển?

Hiểu biết rõ ràng

Phần này có thể trừu tượng hơn một chút, nhưng trên thực tế là nó mang tính ứng dụng cao. Các hướng dẫn chúng ta thực hành sự hiểu biết rõ ràng khi chúng ta đang di chuyển, nhìn thẳng vào đối tượng hoặc nhìn đi chỗ khác, trong tập thể dục, trong mặc quần áo, trong ăn uống, trong đi vệ sinh, trong đi bộ và đứng, trong tư thế ngồi, trong khi ngủ, khi thức dậy và nói chuyện. Đây có thể là một danh sách dài nhưng hiểu ở đây là thực hành hiểu rõ ràng trong tất cả các hoạt động của cơ thể.

Vậy hiểu rõ ràng là gì? Sự hiểu biết rõ ràng có nghĩa là sự hiểu biết về mục đích, hiểu biết về sự phù hợp, hiểu biết về phương sách, và sự hiểu biết về thực tế.

Hiểu biết về mục đích

Hiểu biết về mục đích đơn giản chỉ là hiểu rằng các hành động thân thể của chúng ta có một mục đích khéo léo. Ví dụ, tại sao chúng ta muốn ngồi xuống? Mục đích của việc đi bộ đến nơi này hoặc nơi kia là gì? Chúng ta có thể xem xét khía cạnh này của sự hiểu biết rõ ràng như kiểm tra với ý định của chúng ta. Sự hiểu biết về mục đích khuyến khích chúng ta thấy rõ mục đích của mỗi hành động là gì.

Hiểu biết về sự phù hợp

Chúng ta quan sát xem hành động này của cơ thể có phù hợp với hoàn cảnh hiện tại không? Có khéo léo để hành động theo cách này ngay bây giờ không? Khi chúng ta nhìn vào sự phù hợp với sự hiểu biết rõ ràng, chúng ta có thể thấy được những hành động cơ thể đang nuôi dưỡng bình an, hạnh phúc hay đau khổ.

Hiểu biết về phương sách

Sự hiểu biết về phương sách là hiểu rõ những gì cơ thể đang làm có thể được kết hợp vào thực tế. Đây là một khuyến khích để xem xét làm thế nào chúng ta có thể kết hợp thiền vào cuộc sống hàng ngày. Những gì chúng ta đang làm có thể được xem như một thực hành chánh niệm?

Hiểu biết về thực tế

Sự hiểu biết rõ ràng thực tế đôi khi được dịch là sự hiểu biết không ảo tưởng. Nó giúp chúng ta thấy rõ ba dấu hiệu của sự tồn tại trong thân thể (vô thường, vô ngã và khổ). Chúng ta quan sát mọi thứ thay đổi như thế nào, xem nó thiếu một “cái tôi” vốn có và độc lập, và rằng không có kinh nghiệm nào của cơ thể sẽ dẫn đến hạnh phúc trọn vẹn lâu dài.

Chánh niệm sự thật của cơ thể

Đôi khi được gọi là “chánh niệm của sự xua đuổi thân xác”, nó có nghĩa là nhìn vào bản chất thực sự của cơ thể. Thay vì nhìn toàn bộ cơ thể, chúng ta chia nhỏ nó thành từng phần riêng biệt. Theo truyền thống, chúng ta thực hành bằng cách chú ý đến 32 phần của cơ thể.

Thực hành này giúp chúng ta nhìn thấy cơ thể trong thực tế của nó, thấy nó như nó thật sự đang là. Khi chúng ta phá vỡ cơ thể theo cách này, chúng ta bắt đầu thấy được ba dấu hiệu của sự tồn tại, và không phải là tự ngã.

Chánh niệm bốn yếu tố

Thực hành này là xem cơ thể như một quá trình thay đổi, và cung cấp một góc nhìn mới về cơ thể. Theo truyền thống, chúng ta nhìn vào sự hiện diện của đất, nước, lửa và gió trong thân thể. Đây cũng có thể được dịch là động lực, sự gắn kết, năng lượng và sự mở rộng. Thực hành với bốn yếu tố giúp chúng ta nhìn thấy bản chất thay đổi của cơ thể, và cung cấp một góc nhìn duy nhất thông qua đó để điều tra bản chất của cơ thể.

Chiêm nghiệm xác chết

Thường được gọi là “thiền với cái chết”, thực hành này có thể rất khó khăn. Cái chết là điều không thể tránh khỏi, nhưng đa số chúng ta thường có ác cảm mãnh liệt khi nói về nó. Thực hành với nghĩa trang giúp chúng ta nhìn lại bản chất thật của cơ thể này.

Giống như mọi cơ thể đã đến trước đây, nó phải chịu cái chết và vô thường. Theo truyền thống, có 9 cách chiêm nghiệm nghĩa trang cung cấp một dãy góc nhìn về sự phân hủy của cơ thể: Sự thối rửa của cơ thể, cơ thể được ăn bởi động vật, một bộ xương với gân, thịt và máu, một bộ xương với gân, không có thịt và bôi máu, một bộ xương với dây chằng và cả thịt lẫn máu, bộ xương không có gân, xương bị nứt bởi ánh nắng mặt trời, một đống xương cũ, và xương chôn vùi dưới đất.

Thực hành này có vẻ như bệnh hoạn và thường là khó khăn. Tuy nhiên, đó là một thực hành quan trọng mà chúng ta có thể thử. Nó giúp chúng ta hiểu rõ về vô thường và bản chất của cơ thể.

Nền Tảng Thứ 2 – Chánh Niệm Cảm giác

Chữ Vedanā trong tiếng Pali thường được dịch là “cảm giác hay cảm thọ”. Với nền tảng thứ hai của chánh niệm, chúng ta nhìn vào cảm giác của các trải nghiệm. Đây không phải là tức giận, lo lắng hay vui vẻ…Đây không phải là cảm xúc. Thay vào đó, cảm giác chỉ đơn giản là dễ chịu, khó chịu, hoặc trung tính.

Ví dụ, kinh nghiệm ăn một tô phở tái nạm bò viên có thể là dễ chịu. Khi nghe một tiếng còi xe tải có thể khó chịu. Cảm giác bàn chân nằm trên sàn nhà có thể là trung tính.

Tất nhiên, những ví dụ này không phải lúc nào cũng đúng. Mọi thứ không dễ dàng, khó chịu, hoặc trung lập. Trong thực hành chánh niệm với “Cảm giác”, chúng ta chân thành trong khoảnh khắc đó về bản chất của kinh nghiệm. Một cái gì đó dễ chịu có thể thay đổi và trở nên khó chịu, hoặc ngược lại.

Phần thứ hai của thực hành Cảm giác là ghi nhận kinh nghiệm này xuất phát từ thân thể hay tinh thần. Một trải nghiệm thú vị về thể xác khi ngồi trên ghế sofa. Một trải nghiệm tinh thần dễ chịu có thể là sự tĩnh lặng hoặc thanh thản. Cuối cùng, chúng ta cần phải lưu ý rằng kinh nghiệm đó là “thực tế” hay “không thực tế”.

Kinh nghiệm thực tế là bất cứ điều gì liên quan đến 6 cánh cửa giác quan (nghe, ngửi, nếm, chạm, nhìn, suy nghĩ). Một kinh nghiệm “không thực tế” là cái gì đó không liên quan đến những cánh cửa giác quan này.

Ví dụ, một cảm giác dễ chịu ở thế giới có thể là trải nghiệm khi nhìn thấy hoàng hôn. Một cảm giác dễ chịu không thuộc thế giới có thể là niềm vui phát sinh từ sự tập trung sâu trong thiền định.

Luyện tập với cảm giác là một thực hành quan trọng. Nhận thấy được cảm giác của từng trải nghiệm, chúng ta có thể thấy rõ ràng hơn. Khi chúng ta phát triển khả năng thích ứng với Cảm thọ, chúng ta không còn phản ứng mạnh mẽ với từng trải nghiệm. Sự không thoải mái thường dẫn đến ác cảm và dễ chịu có thể dẫn đến ái dục hoặc bám víu. Khi chúng ta nhận biết một cảm giác phát sinh, chúng ta sẽ thấy rõ ràng tiến trình và phá vỡ nó.

Nền Tảng Thứ 3 – Chánh Niệm Các Trạng Thái Tinh Thần

Chánh niệm các trạng thái tinh thần là sự hiểu biết rõ ràng khi tâm chúng ta đang trong dục vọng, hận thù, ảo tưởng, bị thu hẹp, phân tâm hay bình an. Chúng ta cũng biết khi tâm không có ham muốn, không ảo tưởng…Khi tập luyện với nền tảng này, chúng ta thực sự biết rõ tâm trạng hay trạng thái của tâm.

Tâm chúng ta đang tức giận hay bình tĩnh? Nó đang lo lắng hay căng thẳng? Chúng ta không nhất thiết phải nhìn vào những suy nghĩ riêng rẽ. Thay vào đó, chúng ta nhìn vào trạng thái chung của tâm.

Nền tảng của chánh niệm, tất nhiên, có thể được thực hành trong và ngoài thiền. Khi ngồi, chúng ta biết khi nào tâm thức kích động hay căng thẳng. Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta biết khi nào tâm tập trung hoặc phân tán.

Một cái gì đó xảy ra, có một cảm giác và tâm trí chúng ta đang có một phản ứng. Đây có thể là một kinh nghiệm trong cơ thể hoặc kinh nghiệm với bất kỳ cánh cửa giác quan nào khác.

Ví dụ, chúng ta có một cơn đau đầu gối trong khi thiền, thấy khó chịu, và tâm trở nên căng thẳng hoặc bị kích thích, chúng ta muốn dừng thiền ngay lập tức. Hoặc ai đó nói điều gì đó tốt với chúng ta, chúng ta cảm thấy dễ chịu và tâm được thư giãn.

Nhận thức được trạng thái tinh thần trong kinh nghiệm hiện tại cho phép chúng ta nhìn thấy mối liên hệ giữa tiếp xúc, cảm giác và các phản ứng tinh thần. Đức Phật bày tỏ sự bám víu, oán hận và vô minh như là nguyên nhân chính gây ra đau khổ (Ba Chất độc).

Với thực hành Tứ Niệm Xứ, chúng ta sẽ thấy tiến trình gây ra khổ đau. Chúng ta cũng có thể can thiệp tiến trình dựa trên nền tảng thứ 3 này. Có thể chúng ta nhận thấy tâm trí đang kích động. Sau đó chúng ta nhận ra rằng chúng ta chỉ trải qua một cái gì đó khó chịu. Đem chánh niệm đến trạng thái tinh thần có thể mang lại nhận thức cho các cơ sở khác theo cách này.

Nền Tảng Thứ 4 – Chánh Niệm Pháp

Nền tảng thứ tư của chánh niệm thường được dịch là chánh niệm về các Pháp. Pháp (tiếng Phạn: dharma hoặc dhammas trong tiếng Pali) đề cập ở đây là các đối tượng của tâm. Trong thực hành này, chúng ta thực hành chánh niệm về thực tại. Một trong những cách đơn giản nhất để hiểu nền tảng này là xem nó như là một cuộc điều tra các trạng thái tinh thần có mặt là lành mạnh hay không, nó dẫn đến đau khổ hay giải phóng, có hại hay hữu ích.

Chánh niệm về các Pháp bao gồm năm danh sách: Năm chướng ngại, ngũ uẩn, sáu cơ sở cảm giác bên trong và bên ngoài, bảy yếu tố giác ngộ và bốn chân lý cao quý.

Năm trở ngại: Ái dục, sân hận, hôn trầm, bồn chồn hoặc lo lắng, và hoài nghi.

Ngũ uẩn: Hình thức, cảm giác, nhận thức, sự hình thành tinh thần, ý thức.

Sáu giác quan: Mắt và hình dạng, tai và âm thanh, mũi và mùi, lưỡi và hương vị, cơ thể và liên lạc, tâm trí và ý tưởng.

Bảy Yếu Tố Giác Ngộ: Điều tra, năng lượng, niềm vui, chánh niệm, tĩnh lặng, tập trung, bình tĩnh.

Tứ Diệu Đế: Đau khổ, nguyên nhân của đau khổ, sự chấm dứt đau khổ, Bát Chánh Đạo.

Năm danh sách này cung cấp một cách nhìn vào mức độ khéo léo và hữu ích của các trạng thái tinh thần. Nền tảng thứ ba giúp chúng ta quan sát sự xuất hiện của các trạng thái tinh thần như là một kết quả của cảm thọ (vedana), thì nền tảng thứ tư giúp chúng ta thấy rõ những trạng thái tinh thần đó tạo ra hay làm giảm đau khổ.

Thông qua góc nhìn của năm đề mục này, chúng ta thực hành quan sát tâm trí đang tạo ra sự giải phóng hay phiền não. Chúng ta biết khi nào chúng ta đang trong sân hận, khi nào có nghi ngờ, khi chúng ta đang trải qua đau khổ, khi có sự tĩnh lặng trong tâm…

Thực Hành Tứ Niệm Xứ

Hiểu được những lời dạy trong Tứ Niệm Xứ là rất quan trọng, nhưng chúng ta không thể thực sự hiểu nó nếu không thực hành nó. Khôn ngoan là bắt đầu luyện tập với nền tảng đầu tiên, nâng cao nhận thức cho cơ thể. Sau đó chúng ta có thể kết hợp điều tra cảm giác và thực hành bài tập này tuần tự.

Khi thực hành Tứ Niệm Xứ, điều quan trọng cần nhớ nhiệm vụ của chúng ta chỉ là quan sát và giữ những điều này trong tâm trí. Đây là lý do tại sao phải hiểu ý nghĩa của từ sati. Chúng ta không chỉ quan sát một cách mù quáng, chúng ta ghi nhớ các nền tảng trong khi quan sát.

Hơn nữa, chúng ta không cần thay đổi hoặc sửa chữa bất cứ điều gì. Trong thực hành chánh niệm, chúng ta phải quan sát, tin tưởng rằng sự khôn ngoan sẽ từ bỏ bám víu và chán ghét nếu chúng ta nâng cao nhận thức. Chúng ta có thể nhận thấy những phán đoán đúng – sai của chúng ta xuất hiện. Bám vào, chống lại hoặc trốn tránh chúng chỉ dẫn đến nhiều đau khổ hơn. Lời dạy này là để quan sát với sự bình tĩnh và tách rời.